Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21-6-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hà Thị Nga

Bà Phạm Thị Bích Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 495/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đàm Văn N; nơi cư trú: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H - Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt

- Bị đơn: Chị Đỗ Thị C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 21 tháng 12 năm 2023, Bản tự khai và trong quá trình xét xử, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đàm Văn N trình bày:

Anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị C xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, hai bên gia đình đồng ý, tổ chức hỏi cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/10/1994. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian dài. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không còn hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn tôn trọng lẫn nhau. Lúc đó, chị Nguyễn Thị C1 là người làm đơn xin ly hôn, anh N không đồng ý vì muốn giữ hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, do quá mệt mỏi, chị C1 cứ kiên quyết làm đơn nên anh N cũng đồng ý ký đơn, nhưng sau đó mới biết chị C1 không nộp đơn tại Tòa án. Kể từ thời gian đó, tình cảm vợ chồng không còn hòa thuận nữa, luôn tránh né nhau, không tìm được tiếng nói chung để hòa giải mâu thuẫn. Từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm nhau về mọi mặt. Gia đình hai bên và các con đều biết vợ chồng mâu thuẫn và đã khuyên giải, nhưng nhận thấy không có kết quả. Đến nay, anh N xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì tình trạng hôn nhân hiện tại, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn chị Đỗ Thị C.

Về con chung: Anh N xác nhận vợ chồng có 03 con chung, trong đó các con chung Đàm Hồng T, sinh ngày 20/6/1995 và Đàm Hồng A, sinh ngày 21/9/2000 đều đã thành niên, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng đối với con chung là Đàm Gia H1, sinh ngày 10/02/2009 chưa đủ 18 tuổi. Ly hôn, nếu chị C có nguyện vọng được nuôi con thì anh N đồng ý, nếu chị C không đồng ý anh N nhận nuôi cả hai con chung. Cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận.

Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Đỗ Thị C trình bày:

Chị C nhất trí với phần trình bày của anh N về điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Năm 2019, anh N bỏ đi sống chung như vợ chồng với người khác và đã có con. Từ đó, anh N không còn quan tâm đến gia đình, các con, vợ chồng sống ly thân. Thực tế, nhiều năm nay cuộc sống vợ chồng quá mệt mỏi, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hòa giải được với nhau nữa. Nay anh N xin ly hôn, chị C mong có thể được đoàn tụ, nhưng nếu anh N cương quyết xin ly hôn thì chị C cũng đồng ý.

Về con chung: Các con chung Đàm Hồng T, sinh ngày 20/6/1995 và Đàm Hồng A, sinh ngày 21/9/2000 đều đã thành niên, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Đàm Gia H1, sinh ngày 10/02/2009 chưa đủ 18 tuổi, hiện con đang sống cùng chị C và có nguyện vọng ở với chị, chị C cũng có nguyện vọng được nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị C thống nhất quan điểm với anh N, vợ chồng đã có văn bản tự thỏa thuận về tài sản, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình hòa giải tại Tòa án, chị C đều có quan điểm đồng ý ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung. Tuy nhiên, trong thời hạn chờ Tòa án ra Quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn, chị C có quan điểm thay đổi không đồng ý ly hôn vì hạnh phúc gia đình và các con của chị. Ngoài ra, chị C không có ý kiến về quan điểm nuôi con và tài sản chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa, anh Đàm Văn N giữ nguyên quan điểm như nội dung đơn khởi kiện đã trình bày.

Tại phiên tòa, chị C cho rằng anh N có quan hệ với người phụ nữ khác, không chung thủy với chị (tài liệu hình ành đã nộp cho Tòa án), nhưng chị vẫn chấp nhận vì gia đình, nên chị giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn. Về quan điểm đối với con chung và quan điểm về tài sản chung của vợ chồng, chị C không có ý kiến gì khác. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được đoàn tụ.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đàm Văn N đề nghị Tòa án căn cứ vào tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng, các bên không còn tình cảm tôn trọng nhau, không chung thủy và sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Tại các phiên hòa giải chị C đều đồng ý ly hôn. Điều đó cho thấy, mục đích xin đoàn tụ của chị C chỉ là ý chủ quan của bản thân. Mặt khác các con chung đều xác nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và hai bên gia đình đã hòa giải, nhưng không có kết quả. Việc chị C đưa ra tài liệu anh N có quan hệ với người khác là chưa có đủ căn cứ pháp luật, chỉ làm rõ mục đích của chị C gây áp lực cho anh N mà không nhằm mục đích đoàn tụ. Vì vậy đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị C.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án trên cơ sở đánh giá, phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của các đương sự trình bày tại phiên tòa về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng theo quy định của pháp luật thấy đủ cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đàm Văn N, cho anh N được ly hôn chị Nguyễn Thị C1.

Về con chung, căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng con, tình hình thực tế của chị C1, nguyện vọng của con chung và sự thỏa thuận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận giao con chung Đàm Gia H1, sinh ngày 10/02/2009 cho chị C1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Đối với các con chung Đàm Hồng T, sinh ngày 20/6/1995 và Đàm Hồng A, sinh ngày 21/9/2000 đã thành niên, anh N, chị C1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con, anh N và chị C1 trình bày để hai bên tự thỏa thuận, không yêu càu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh N, chị C1 trình bày hai bên đã có văn bản tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết việc chia tài sản chung.

Về án phí: Nguyên đơn anh Đàm Văn N chịu cả án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn là chị Đỗ Thị C có đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân:

[2] Anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị Chung kết h với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/10/1994. Vì vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị C là hôn nhân hợp pháp.

[3] Qua xác minh tại địa phương, đại diện gia đình và ý kiến của các con về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, cũng như trên cơ sở quan điểm trình bày của các bên, anh N và chị C đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách cư xử, sự quan tâm chăm sóc gia đình, anh N có quan hệ không chung thủy với người khác và đã có con. Từ năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Mặc dù cũng đã nhiều lần bản thân chị C và hai bên gia đình tìm cách hòa giải, nhưng mâu thuẫn vẫn không cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị C đều có quan điểm đồng ý ly hôn với anh N và đã tự thống nhất phân chia tài sản chung của vợ chồng, tặng cho các con của anh chị mỗi người một tài sản (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất). Tuy nhiên, sau đó chị C thay đổi không đồng ý ly hôn và mong muốn được đoàn tụ, nhưng chị không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

[4] Thực tế, chị C cũng xuất trình một số tài liệu anh N hiện đang chung sống với người khác và đưa ra điều kiện nếu anh N cố tình ly hôn thì chị sẽ tố cáo anh N đến cơ quan có thẩm quyền xử lý anh N về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. Đối với hành vi này của anh N, Hội đồng xét xử đánh giá anh N có biểu hiện vi phạm nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của ông cha, là hành vi đáng lên án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét về hành vi trái pháp luật của anh N, nhưng cũng là cơ sở để đánh giá mâu thuẫn vợ chồng là chính xác, nên việc chị C không đồng ý ly hôn chỉ làm tăng mâu thuẫn của vợ chồng, không nhằm thay đổi mục đích đoàn tụ cuộc sống tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa anh N vẫn giữ quan điểm ly hôn và không thừa nhận quan điểm của chị C về việc chị cho rằng anh N có quan hệ với người khác.

[5] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, không còn khả năng khắc phục, nếu kéo dài tình trạng gia đình như hiện tại chỉ gây khó khăn, trở ngại cho cuộc sống của mọi người trong gia đình, do đó yêu cầu xin ly hôn của anh Đàm Văn N với chị Đỗ Thị C là có căn cứ, đúng với thực tế, phù hợp các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung:

[6] Anh Đàm Văn N và chị Đỗ Thị C đều xác nhận quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là Đàm Hồng T, sinh ngày 20/6/1995 và Đàm Hồng A, sinh ngày 21/9/2000 đều đã thành niên, nên anh N, chị C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Đàm Gia H1, sinh ngày 10/02/2009, anh N và chị C thỏa thuận giao con cho chị C nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh N, chị C trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận về con chung của anh N, chị C, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung:

[7] Anh Đàm Văn N, chị Đỗ Thị C xác nhận vợ chồng đã có văn bản thống nhất tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[8] Anh Đàm Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[9] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Đàm Văn N được ly hôn với chị Đỗ Thị C.

2. Về con chung: Giao con chung Đàm Gia H1, sinh ngày 10/02/2009 cho chị Đỗ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Đàm Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật. Anh Đàm Văn N đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005756 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND xã Quang Trung, huyện An Lão, tp. Hải Phòng (GCNKH số 35 ngày 03/10/1984);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyên Chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger