Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS- ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phượng và ông Trần Văn Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại: Trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn M, tên gọi khác: không; sinh ngày 10/5/1998; N sinh: Huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn L, sinh năm: 1959; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1960; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 26/03/2024, Võ Văn M lên cơn nghiện ma túy nên sử dụng điện thoại NOKIA 105 màu đen của mình có số thuê bao 0962.095.214 gọi điện thoại đến số thuê bao 0847.322.485 của một người đàn ông lạ mặt tên H1 để mua 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ma túy. Người đó đồng ý, hẹn M đến thị trấn H, huyện H lấy ma túy. Gọi điện thoại xong, M đi xe buýt đến thị trấn H, khi đi đến khu vực thuộc xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, M xuống xe buýt gọi điện thoại cho người đàn ông lạ mặt, người đó nói “Em đi theo đường Quốc lộ 46A (hướng huyện N đi thành phố V) đến khu vực nghĩa trang thuộc khối G, thị trấn H, huyện H lấy gói ma túy để ở trên bờ tường (màu vàng) rồi để tiền lại vị trí cất dấu gói ma túy cho anh”, M tắt điện thoại đi theo chỉ dẫn. Trên đường đi đến nghĩa trang, M vào hiệu thuốc mua một bơm kim tiêm y tế và một ống nước cất để làm công cụ sử dụng ma túy. Khi đến nghĩa trang, M đi vào khu vực bờ tường màu vàng, thấy có một gói bao potylen màu vàng, biết là gói ma túy mà người đàn ông bán, M cầm gói ma túy, để lại 300.000 đồng rồi đi vào phía trong nghĩa trang, lấy một ít ma túy ra để sử dụng. Sử dụng xong, số ma túy còn lại Mẫn gói bằng bao potylen cũ, rồi bỏ vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, cất dấu trong túi quần phía trước bên trái, còn bơm kim tiêm y tế và vỏ ống nước cất M bỏ trong túi quần phía trước bên phải M đang mặc, rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 46A về nhà. Khi Võ Văn M đi đến gần đường Q thì bị Công an huyện H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ: 01 (một) gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh potylen màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine), 01 (một) bơm kim tiêm, 01 (một) ống nước cất đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 360/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 01/4/2024, của phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Võ Văn M gửi tới giám định là ma túy, loại Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ của Võ Văn M có khối lượng là 0,315g (không phẩy ba trăm mười lăm gam).

Quá trình điều tra Võ Văn M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-HN ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Võ Văn M1 tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Văn M2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ Văn M từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy gói niêm phong vật chứng chứa ma túy, 01 (một) bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng; 01 (một) ống nước cất bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Võ Văn M;Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, máy đã qua sử dụng của bị cáo M đã dùng để liên lạc mua ma túy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật, bản kết luận giám định đồng thời phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 26/3/2024, tại khối G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Công an huyện H, bắt quả tang Võ Văn M đang có hành vi tàng trữ 0,315 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết và nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do là người nghiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý phạm tội .Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp, đủ nghiêm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Phong bì niêm phong gói vật chứng chứa ma túy; 01 (một) bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng; 01 (một) ống nước cất bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; thu giữ của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, máy đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ vào quy định theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6]. Trong vụ án này, người đàn ông tên H1 đã giới thiệu người bán ma tuý và người đàn ông đã bán ma túy cho Võ Văn M, sử dụng số thuê bao 0847.322.485, do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể và chưa xác định được chủ sở hữu số thuê bao nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định pháp luật.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn M 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì Công an huyện H dán kín, niêm phong theo đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết: “Vỏ gói niêm phong vật chứng thu giữ của Võ Văn M (sinh năm: 1998, cư trú tại xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) tại khối G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 26/3/2024. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”; 01 (một) bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng; 01 (một) ống nước cất bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng;

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, máy đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục THADS huyện H.

    (Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Võ Văn M phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND tỉnh Nghệ An;
  • - Viện KSND huyện Hưng Nguyên;
  • - CA huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh NA; Lưu HSVA.
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS- ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Mẫn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger