Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 30 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đức Thủy và bà Phạm Thị Hằng;

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Hương G - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm Phòng xử án tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST - HS, ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 09 tháng 10 năm 1995 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú: Xóm B, xã A, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự đo; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo có vợ là: Đàm Thị Hồng L (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/10/2025 tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 173/QĐ-XPHC của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T xử phạt Nguyễn Văn T 1.500.000 đồng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy ngày 05/9/2025.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/09/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Khắc H1, sinh năm: 1996, địa chỉ: Xóm B, xã A, tỉnh Thái Nguyên - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người chứng kiến:

Ông Hà Trung Đ1, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên - Vắng mặt không lý do

Ông Nguyễn Khắc T1, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Xóm G, xã P, tỉnh Thái Nguyên - Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút ngày 08/09/2025, tại xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên, Công an xã P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 02 (hai) túi nilon màu trắng, có viền kẻ màu đỏ (01 túi có chứa 02 viên nén màu hồng; 01 túi có chứa tinh thể rắn màu trắng), thu giữ trong lòng bàn tay trái của T; Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius YAMAHA BKS 20L4-8446. Tổ công tác đã lập biên bản người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ niêm phong 02 viên nén màu hồng và tinh thể rắn màu trắng theo quy định (ký hiệu T), đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Nguyễn Văn T xác định T dương tính với chất gây nghiện ma tuý loại Methamphetamine. Khám xét khẩn cấp nhà ở của T, không thu giữ gì có liên quan.

Hồi 20 giờ 10 phút cùng ngày, tại Phòng K - Công an tỉnh T, các thành phần có thẩm quyền liên quan, tiến hành cân xác định chất tinh thể rắn màu trắng có khối lượng là 0,279 gam, niêm phong vào bì ký hiệu A1, gửi giám định; 02 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,199 gam, niêm phong vào bì kí hiệu A2 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 319/KL-KTHS ngày 16/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:

- Mẫu viên nén màu hồng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin; Có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,199 gam.

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamin; Có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,279 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Do bản thân là người nghiện ma tuý nên khoảng 14 giờ ngày 08/9/2025, T một mình điều khiển xe mô tô BKS 20L4-8446, T mượn xe mô tô của Bùi Khắc H1, sinh năm 1996 trú tại xóm B, xã A, tỉnh Thái Nguyên đi từ Q, tỉnh Thái Nguyên lên khu vực xã P, Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến khu vực tam giác Đ gần Trung tâm văn hoá xã P, T gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, không rõ tên và địa chỉ hỏi mua ma tuý và đưa cho người này 450.000 đồng, người này nhận tiền và nói với T “hàng để sau điểm bus, để trong bao thuốc”. T đi lấy vỏ bao thuốc lá kiểm tra bên trong thấy có 02 túi nilon màu trắng, có viền kẻ màu đỏ (01 túi có chứa 02 viên nén màu hồng, là ma túy hồng phiến; 01 túi có chứa tinh thể rắn màu trắng là ma tuý đá). T cầm trong lòng bàn tay trái chuẩn bị đi về thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma tuý vừa mua chưa kịp sử dụng. Ngoài ra, T khai nhận trước đó vào ngày 05/9/2025 T đã mua 100.000₫ ma tuý tổng hợp dạng đá của một người đàn ông không quen biết tại thành phố Hà Nội, sau đó đem về nhà sử dụng bằng hình thức “hít”.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,170 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 0,071 gam mẫu A2 hoàn trả sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 (một) vỏ bì ký hiệu T, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và các vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn T;

Tại bản cáo trạng số: 15/CT - VKS KV4, ngày 01 tháng 12 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, điều 249/BLHS.

Điều luật có nội dung:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.

a)......

c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

Tại phiên toà đại diện viện kiểm nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 42 (bốn mươi hai) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/9/2025.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,170 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có chứa 0,071 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2.

+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 (một) vỏ bì niêm phong ký hiệu T, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và các vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn T.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như viện kiểm sát đã truy tố và bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, không tranh luận; Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ 20 phút ngày 08/9/2025, tại xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,478 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.

a)......

c) Heroine, C, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Từ những căn cứ trên, xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Nguyễn Văn T thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng nhiều loại tội phạm, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Ngoài lần pham tội này thì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và ngày 21/10/2025 tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 173/QĐ-XPHC của Công an tỉnh T xử phạt Nguyễn Văn T 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Vật chứng trong vụ án gồm: Đối với phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma túy và phong bì niêm phong là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 (một) vỏ bì niêm phong ký hiệu T, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và các vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn T là vật không có giá trị do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 20 L4 - 8446, màu đỏ, số máy 3S31-075145, số khung Y-075145. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản của anh Bùi Khắc H1, việc Nguyễn Văn T sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội anh H1 không biết. Trong quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin lại chiếc xe mô tô trên do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh Bùi Khắc H1, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về vấn đề khác: Đối với 02 người đàn ông bán ma tuý cho T vào ngày 05/9/2025 và ngày 08/9/2025 và anh Bùi Khắc H1 là người cho T mượn xe mô tô đi mua ma tuý: Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của 02 người đàn ông đã bán ma túy cho T và anh Bùi Khắc H1 không biết T mượn xe mô tô của mình đi mua ma tuý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với những người trên do đó không có cơ sở để xử lý, xét thấy là phù hợp.

[8] Về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân:

Xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2, Điều 136/BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2025.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc Thi hành án.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với:

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,170 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có chứa 0,071 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2.

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên trong có 01 (một) vỏ bì niêm phong ký hiệu T, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và các vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn T.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 29/12/2025 giữa Công an tỉnh T với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Thái Nguyên).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Khắc H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND khu vực 4 - Thái nguyên;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T k1Đ249
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger