|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-ST |
Ngày 26/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sướng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Minh, ông Nguyễn Đức Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Thiên -Thư ký TAND khu vực 9 - Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 03/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 14/11/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1983 ;
Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh ; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo : Thiên chúa ; Trình độ học vấn: 10/12 ; Nghề nghiệp : Lao động tự do ; Họ và tên bố: Nguyễn Văn S, sinh năm:1957 ; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1960 ; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai ; Họ và tên vợ : Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981; Con : Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số: 17/2009/HSST ngày 21/4/2009 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt K 7 năm tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/7/2014, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/9/2009. Đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại T thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B. (Có mặt)
Bị hại: anh Tống Đức K1, sinh năm 1978, ở thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/8/2025, Nguyễn Văn K, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Star, màu xanh, BKS 18Z9- 3702 (xe mô tô này là của chị Hoàng Thị L, sinh năm 1982, nơi cư trú thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh là bạn gái của K) đi lang thang trên các tuyến đường thuộc địa bàn xã L và xã T, mục đích để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 04 giờ ngày 04/8/2025, K điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường trước cổng nhà anh Tống Đức K1, ở thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh, K thấy có 01 chiếc xe cải tiến, phía trên có để 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 8.5HP (mã lực), phía trước thân máy có 02 lốp cao su và 02 bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm, K quan sát thấy không có ai trông giữ nên điều khiển xe mô tô đi đến rồi buộc càng chiếc xe cải tiến trên vào đuôi xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô về cửa hàng thu mua phế liệu của chị Hoàng Thị L. Đến nơi, K dùng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen bên trong có gắn sim số 0353.648.511 gọi điện đến số điện thoại 0342.954/727 của chị L và bảo chị L dậy mở cổng. Khi chị L ra mở cổng thì thấy phía sau xe mô tô của K có buộc 01 chiếc xe cải tiến, phía trên có để 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 8.5HP (mã lực), phía trước thân máy có 02 lốp cao su và 02 bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm nên chị L hỏi K “Cái gì đây, đồ của ai đấy”, K trả lời “ Đồ của bạn nó nhờ sửa hộ”, nghe K nói vậy chị L không hỏi gì thêm. Sau đó, K điều khiển xe mô tô kéo chiếc xe cải tiến về phía sau kho phế liệu rồi tháo chiếc xe cải tiến để ở đó. Sau đó, K vào phòng ngủ nhà chị L để ngủ, còn chị L đi vệ sinh cá nhân rồi đi đến nhà bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952, nơi cư trú thôn P, xã T để mua phế liệu. Khương ngủ ở nhà chị L đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì đi về nhà mình. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, chị L biết những tài sản K để nhờ ở quán thu mua phế liệu nhà mình là do K trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B những tài sản sau: 01 chiếc xe cải tiến, phía trên có để 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 8.5HP (mã lực), phía trước thân máy có 02 lốp cao su và 02 bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Motor Satr, màu xanh, BKS 18Z9- 3702 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel, màu xanh, bên trong có gắn sim số 0342.954.727.
Ngày 04/8/2025, anh Tống Văn K2 đã có đơn trình báo gửi Công an xã T. Xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền gải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra (Phòng PC02) Công an tỉnh B nên Công an xã T đã chuyển đơn của anh K2 đến cơ quan Cảnh sát điều tra (Phòng PC02) Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền
* Ngày 04/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra (Phòng PC02) Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Quá trình khám nghiệm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì .
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành thu giữ 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Imou micro SD 32 Gb màu đen được gắn trong camera an ninh tại cửa hàng thu mua phế liệu của chị Hoàng Thị L, ghi lại hình ảnh K đi xe mô tô có kéo theo 01 chiếc xe cải tiến, phía trên có để 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 8.5HP (mã lực), phía trước thân máy có 02 lốp cao su và 02 bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm về cửa hàng thu mua phế liệu của chị Hoàng Thị L.
Ngày 08/8/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra yêu cầu định giá tài sản số C467/ YC- CSHS gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh, để định giá những tài sản mà Khương trộm cắp ngày 04/8/2025 .
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL- HĐĐGTS ngày 19/3/2025 của Hội đồng định giá tỉnh Bắc Ninh, kết luận:
- + 01 xe cải tiến khung sắt, thang đẩy bằng gỗ, xe có hai bánh lốp cao su, trị giá 200.000 đồng.
- + 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máy chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 85.HP (mã lực), phía trước thân máy có hai lốp cao su và 02 bộ lưỡi phay đất, có giá trị 3.000.000 đồng.
- + 01 chiếc cà lê dài 29cm, có trị giá 16.667 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 3.216.667 đồng.
Ngày 08/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số C885/QĐ- CSHS, gửi phòng K4 Công an tỉnh B để giám định 03 file vi deo được sao trích từ 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Imou micro SD 32 Gb màu đen thu giữ tại nhà chị Hoàng Thị L có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không.
Tại Bản kết luận giám định số 2114/KL- KTHS ngày 27/8/2025 của phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp vi deo mẫu cần giám định .
Với nội dung trên, Cáo trạng số 12/CTr - VKS - KV9 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên vào khoảng 23 giờ ngày 03/8/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Star, màu xanh, BKS 18Z9- 3702 (xe mô tô này là của chị Hoàng Thị L, sinh năm 1982, nơi cư trú thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh là bạn gái của bị cáo) đi lang thang trên các tuyến đường thuộc địa bàn xã L và xã T, mục đích để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 04 giờ ngày 04/8/2025, K điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường trước cổng nhà anh Tống Đức K1, Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe cải tiến; 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng công suất 8.5HP (mã lực), phía trước thân máy có 02 lốp cao su và hai bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm, có tổng trị giá là 3.216.667 đồng của gia đình anh Tống Đức K1, với mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Bị cáo xác định hành vi trộm cắp tài sản nhà anh K1 là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát khu vực 9 - Bắc Ninh tuy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng không oan sai gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 12/CTr- VKS ngày 03/11/2025. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 16/09/2025.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen bên trong có gắn sim số 0353.648.511 và 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A31, màu xanh lam, đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Do anh Tống Đức K1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh, không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo
K3 được nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên vào khoảng 04 giờ ngày 04/8/2025, tại trước của cổng nhà anh Tống Đức K1, Nguyễn Văn K đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe cải tiến; 01 máy xới đất dạng đầu dọc, kiểu máu chạy bộ, đầu máy có động cơ chạy nhiên liệu xăng, phía trước thân máy có 02 lốp cao su và hai bộ lưỡi phay đất và 01 cà lê dài 29cm, có tổng trị giá là 3.216.667 đồng của gia đình anh Tống Đức K1. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”. Giá trị tài sản bị cáo K trộm cắp là 3.216.667 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu: Tại Bản án số: 17/2009/HSST ngày 21/4/2009 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt K 7 năm tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/7/2014, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 22/9/2009. Đến nay đã được xóa án tích. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khan cho công tác điều tra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do hành vi phạm tội của mình gây ra; bị cáo có mẹ đẻ tham gia thanh niên xung phong bảo vệ biên giới được tặng kỷ niệm chương nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen bên trong có gắn sim số 0353.648.511 và 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A31, màu xanh lam, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn K. Những vật chứng này không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn K chở tài sản trộm cắp đến quán thu mua phế liệu của chị Hoàng Thị L. được lưu giữ trong 01 VDV, xác định đây là tài liệu chứng cứ nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với chị Hoàng Thị L là người cho K để nhờ những tài sản mà K trộm cắp tại nhà của mình và là người cho K mượn chiếc xe mô tô nêu trên. Quá trình điều tra xác định, chị L không biết những tài sản này là do K trộm cắp mà có; cũng không biết K sử dụng chiếc xe mô tô của mình để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét, xử lý chị L là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/09/2025 là ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen bên trong có gắn sim số 0353.648.511 và 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A31, màu xanh lam, đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hữu Minh |
Nguyễn Xuân Sướng |
|
Nguyễn Đức Hùng |
Nơi nhận;
- TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh ;
- VKSND khu vực 9 – Bắc Ninh;
- Chi cục THADS khu vực 9;
- Những NTGTT;
- Lưu HS, VP.
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
