|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/KDTM-ST Ngày 14 tháng 11 năm 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Việt
- Bà Đặng Thị Mỹ Hường
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST-DS, ngày 01 tháng 8 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2025/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 327/2025/QÐST-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (V).
Địa chỉ trụ sở chính: Số A phố T, phường H, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: 10 L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Nhật H - Phó Tổng giám đốc. Văn bản số 138/2025/GUQ-V ngày 11/3/2025.
Người đại diện theo giấy ủy quyền số: 648/2025/GUQ-V ngày 06/5/2025: Ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn D, ông Nguyễn Hoài N.
Người đại diện theo ủy quyền tại giấy ủy quyền số: 1224/2025/GUQ-V, ngày 05/9/2025: Ông Trần Vy Nhật Q - Chuyên viên Ban công nợ; ông Dương Việt H1 -
Chuyên viên Ban công nợ; ông Cao Văn N1 - Trưởng phòng khách hàng; ông Phan Trọng T1 - Chuyên viên quản lý quan hệ khách hàng. Ông Dương Việt H1 có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh M, sinh năm 1969.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ánh M: Ông Nguyễn Quang H2, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: Khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. Văn bản ủy quyền ngày 27/8/2025. Ông Nguyễn Quang H2 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Dương Việt H1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/6/2022 giữa Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X (viết tắt là Ngân hàng) và bà Nguyễn Thị Ánh M có ký hợp đồng tín dụng số 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200. Theo đó, Ngân hàng cho bà M vay 1.100.000.000 đồng. Mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 27/6/2022 đến ngày 27/6/2023); lãi suất cho vay 8.5%/năm; lãi suất quá hạn 150%/lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 10% tính trên số nợ chậm trả tương ứng thời gian chậm trả.
Ngày 23/5/2024 Ngân hàng bán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (viết tắt là Công ty) khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200 ngày 24/6/2022 do Ngân hàng và bà M xác lập (Hợp đồng mua, bán nợ số 554/2024/MBN.VAMC-CB ngày 23/5/2024).
Sau đó, ngày 17/4/2025 Công ty bán khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200 ngày 24/6/2022 cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (viết tắt là V) (Hợp đồng mua bán nợ số: 378/2025/BN.VAMC-VNEO ngày 17/4/2025). Để bảo đảm khoản vay trên bà Nguyễn Thị Ánh M ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 78/2022/24101/02.HĐTC/200, ngày 24/6/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 80m²; thửa đất số 584; tờ bản đồ số 77; mục đích sử dụng: đất ở đô thị, tọa lạc tại thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 803322, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04433 do Sở T4 cấp ngày 31/5/2021, cập nhật nội dung thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh M ngày 02/6/2022.
Hợp đồng thế chấp Văn phòng C chứng nhận ngày 24/6/2022 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh T5 cùng ngày 24/6/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà M không thực hiện trả vốn, lãi theo hợp đồng đã ký mặc dù Ngân hàng nhiều lần yêu cầu bà M tất toán nợ. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên V yêu cầu Nguyễn Thị Ánh M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N số nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/11/2025 là 1.418.230.942đ (Một tỷ bốn trăm mười tám triệu hai trăm ba mươi nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; Nợ lãi trong hạn 3.073.973 đồng; Lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; Lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng. Yêu cầu bà M tiếp tục chịu lãi vay, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200, ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà M đối với V. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà M thì bà M có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ trên cho V.
Ông Nguyễn Quang H2 đại diện theo ủy quyền bị đơn trình bày:
Ông đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng ý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (V) đối với bà Nguyễn Thị Ánh M về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và số tiền vốn, lãi còn nợ tính đến ngày 14/11/2025 như đại diện theo ủy quyền của V trình bày là 1.418.230.942 đồng. Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; nợ lãi trong hạn 3.073.973 đồng; lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng. Đồng ý tiếp tục chịu lãi vay, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200, ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 đến khi bà M thanh toán xong khoản nợ và đồng ý xử lý tài sản thế chấp để thi hành án.
Tuy nhiên do hoàn cảnh bị đơn khó khăn, giá trị bất động sản giảm nên đề nghị V xem xét xóa lãi, giảm lãi; tạo điều kiện cho bị đơn kéo dài thời gian trả nợ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:
Thẩm phán chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền tại khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thủ tục tống đạt thực hiện đúng quy định tại Điều 171, 175, 177, 179 BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTSD về việc xét xử vụ án.
Ý kiến về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (V) đối với bà Nguyễn Thị Ánh M. Buộc Nguyễn Thị Ánh M trả số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.418.230.942 đồng và yêu cầu bà M tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200, ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 đến khi bà M trả hết nợ cho V. Trường hợp bà M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì V được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 78/2022/24101/02.HĐTC/200, ngày 24/6/2022 để thu hồi nợ. Sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm mà vẫn không trả hết nợ yêu cầu bà M có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho V.
Miễn án phí kinh doanh thương mại cho bà M theo quy định. Bà M phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị Ánh M tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang). Bà M có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang tiếp tục giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, nên thuộc tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2]. Về nội dung:
- [2.1]. Về hợp đồng tín dụng: Ngày 24/6/2022 Ngân hàng và bà M ký hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200. Theo đó, Ngân hàng giải ngân cho bà M vay 1.100.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng; thời hạn vay 12 tháng từ ngày 27/6/2022 đến ngày 27/6/2023, lãi suất 8.5%/năm; lãi suất quá hạn 150%/lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 10% trên số nợ chậm trả.
- [2.2]. Về hợp đồng thế chấp: Để bảo đảm khoản vay trên bà Nguyễn Thị Ánh M ký với Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 78/2022/24101/02.HĐTC/200, ngày 24/6/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 80m²; thửa đất số 584; tờ bản đồ số 77; mục đích sử dụng: đất ở đô thị tọa lạc tại thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 803322, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04433 do Sở T4 cấp ngày 31/5/2021, cập nhật nội dung thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh M ngày 02/6/2022. Hợp đồng thế chấp Văn phòng C chứng nhận ngày 24/6/2022 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh T5 cùng ngày 24/6/2022.
- [2.3]. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà M không thực hiện trả vốn, lãi theo hợp đồng đã ký mặc dù trước đó Ngân hàng nhiều lần yêu cầu bà M tất toán nợ. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên V yêu cầu Nguyễn Thị Ánh M chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N số nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/11/2025 là 1.418.230.942đ (Một tỷ bốn trăm mười tám triệu hai trăm ba mươi nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; nợ lãi trong hạn 3.073.973 đồng; lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng. Yêu cầu bà M tiếp tục chịu lãi vay, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200, ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.
- [3]. Về chủ thể khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy ngày 23/5/2024 Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X bán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam khoản nợ của hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200 được xác lập giữa Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X và bà Nguyễn Thị Ánh M (Hợp đồng mua, bán nợ số: 554/2024/MBN.VAMC-CB, ngày 23/5/2024 kèm phụ lục 01, phụ lục 02-HĐMBN); sau đó ngày 17/4/2025 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam tiếp tục bán lại khoản nợ theo hợp đồng tín dụng trên cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (Hợp đồng mua bán nợ số: 378/2025/BN.VAMC-VCBNEO, ngày 17/4/2025 kèm phụ lục 01, phụ lục 02). Theo Quyết định số: 30/QĐ-TTGSNH1, ngày 17/01/2025 của Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng - quyết định về việc sửa đổi nội dung giấy phép hoạt động của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X; Quyết định số: 1447/QĐ-NHNN ngày 24/3/2025 của Ngân hàng - Quyết định về việc sửa đổi nội dung về trụ sở chính tại giấy phép hoạt động của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N. Do đó, Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [4]. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông H2 đại diện theo ủy quyền của bà M thống nhất lời trình bày của đại diện theo ủy quyền V về việc bà M có xác lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng và thừa nhận tính đến ngày 14/11/2025 bà M còn nợ V nợ gốc và lãi là 1.418.230.942 đồng. Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; nợ lãi trong hạn 3.073.973 đồng; lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng. Bị đơn đồng ý tiếp tục chịu lãi vay, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200, ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ và đồng ý xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, do bị đơn có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị V xem xét xóa lãi, giảm lãi và tạo điều kiện cho bị đơn kéo dài thời gian trả nợ. Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ ý kiến như trình bày trên. Các đương sự xác định tài sản thế chấp không thay đổi, phát sinh so với biên bản Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ.
- [5]. Qua lời trình bày của các đương sự, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy, các đương sự thống nhất với nhau về việc xác lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản cũng như bị đơn thừa nhận còn nợ gốc và nợ lãi như đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày. Bị đơn chỉ đề nghị xóa lãi, giảm lãi quá hạn để có điều kiện thanh toán nợ cho V, do hoàn cảnh hiện tại có khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200 ngày 24/6/2022; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 78/2022/24101/02.HĐTC/200 ngày 24/6/2022 Văn phòng C chứng nhận ngày 24/6/2022 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh T5 ngày 24/6/2022; giấy đề nghị giải ngân kiêm giấy nhận nợ do bà Nguyễn Thị Ánh M ký nhận ngày 27/6/2022; Hợp đồng mua, bán nợ số: 554/2024/MBN.VAMC-CB ngày 23/5/2024 kèm phụ lục 01, phụ lục 02-HĐMBN; Hợp đồng mua bán nợ số: 378/2025/BN.VAMC-VCBNEO ngày 17/4/2025 kèm phụ lục 01, phụ lục 02; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 803322, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04433 do Sở T4 cấp ngày 31/5/2021, cập nhật nội dung thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh M ngày 02/6/2022 và bảng kê nợ gốc, lãi chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N buộc bà Nguyễn Thị Ánh M trả nợ gốc, lãi tính đến ngày 14/11/2025 là 1.418.230.942 đồng. Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; lãi trong hạn 3.073.973 đồng; lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng. Bà M tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 78/2022/24101/08.1.HĐTD/200 ngày 24/6/2022 kể từ ngày 15/11/2025 đến khi thanh toán hết nợ. Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị nguyên đơn xem xét xóa lãi, giảm lãi do hoàn cảnh khó khăn nhưng không được nguyên đơn chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết. Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp để thi hành án, nếu bà M không thanh toán nợ. Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên có công chứng, đăng ký thế chấp đúng quy định về đăng ký thế chấp, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.
- [6]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tạm nộp 4.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp tại thị trấn P, huyện T (2 lần). Số tiền thực chi 1.800.000 đồng, đã hoàn lại nguyên đơn 2.200.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bà M có nghĩa vụ hoàn lại nguyên đơn 1.800.000 đồng.
- [7]. Về án phí: Bà M có nghĩa vụ chịu 54.547.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền bà M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N là 1.418.230.942 đồng. Do bà Nguyễn Thị Ánh M là cá nhân thuộc hộ cận nghèo được Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp cấp Chứng nhận hộ cận nghèo (giá trị sử dụng từ ngày 01/01/2025 đến ngày 31/12/2025), nên bà M được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466; Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N đối với bà Nguyễn Thị Ánh M.
Buộc bà Nguyễn Thị Ánh M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/11/2025 là 1.418.230.942đ (Một tỷ bốn trăm mười tám triệu hai trăm ba mươi nghìn chín trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó nợ gốc 1.084.256.393 đồng; nợ lãi trong hạn 3.073.973 đồng; lãi chậm trả lãi 733.453 đồng; lãi chậm trả gốc 330.167.123 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (14/11/2025) bà Nguyễn Thị Ánh M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Nguyễn Thị Ánh M vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh M không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 78/2022/24101/02.HĐTC/200 ngày 24/6/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 80m²; thửa đất số 584; tờ bản đồ số 77; mục đích sử dụng: đất ở đô thị tọa lạc tại thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 803322, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04433 do Sở T4 cấp ngày 31/5/2021, cập nhật nội dung thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh M ngày 02/6/2022. Hợp đồng thế chấp Văn phòng C chứng nhận ngày 24/6/2022 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh T5 cùng ngày 24/6/2022 để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N thu hồi nợ thì bà Nguyễn Thị Ánh M vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ánh M có nghĩa vụ hoàn lại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N (Một triệu tám trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh M được miễn 54.547.000đ (Năm mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại TNHH MTV N được nhận lại 23.288.000₫ (Hai mươi ba triệu hai trăm tám mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001466, ngày 18/01/2024 (biên lai thu người nộp tiền Ngân hàng Thương mại TNHH MTV X) của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi gởi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 27/2025/KDTM-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Nguyễn Thị Ánh M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP NT CNS nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/11/2025 là 1.418.230.942 đồng. Tiếp tục chịu lãi phát sinh và xử lý tài sản thế chấp nêu không trả hết nợ.
