|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2025/HS - PT | Ngày 27/5/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Trọng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Thực và bà Nguyễn Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLPT - HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXX-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Các bị cáo bị Viện kiểm sát kháng nghị gồm:
-
Nguyễn Xuân K (tại phiên tòa khai có tên gọi khác là T3), sinh năm 1978 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị A và 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Nhân thân: Ngày 23/10/2000, Tòa án nhân dân tối cáo xử phạt 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 31/5/2017, Tòa án nhân dân huyện Kim Động xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2023, chuyển tạm giam từ ngày 02/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Văn S, sinh năm 1993 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã T (nay là xã Q), huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị S1; Có vợ là Nguyễn Thị Trà M và 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022.
Nhân thân: Ngày 16/12/2014, Công an huyện  xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Huỷ hoại tài sản.
Ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngày 21/01/2017, Công an huyện  xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
Ngày 04/5/2017, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 02 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2023, chuyển tạm giam từ ngày 02/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Đình N, sinh năm 1991 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ là Nguyễn Thị M1 và 01 con, sinh năm 2013.
Nhân thân: Ngày 15/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngày 07/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2023, chuyển tạm giam từ ngày 02/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Bị hại: Anh Lê Anh T2, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Vũ Thị M2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8 năm 2023, Nguyễn Xuân K cho anh Lê Anh T2 vay số tiền 80.000.000đồng. Hết thời hạn vay, K nhắn tin, gọi điện và cùng với S, N, H đến nhà anh T2 đòi tiền nhiều lần nhưng anh T2 chưa trả, đồng thời anh T2 xin đi làm lái xe tại TP., tỉnh Quảng Ninh để tránh không gặp K. Do không gặp được anh T2 để đòi tiền nên K có nhờ S, N, T4 và H tìm thông tin của anh T2 giúp K. Tối ngày 25/10/2023, sau khi biết anh T2 đang ở thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, H thông báo cho N, K, S và T4 biết. Lúc này S và T4 đang ở nhà K nên K giao cho S chiếc ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, biển số 30A-821.33 bảo S cùng T4 đi ra thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tìm gặp và đưa anh T2 về để K đòi tiền anh T2, S và T4 đồng ý. Ngay sau đó N và H cũng đến nhà K, biết S và T4 đi Quảng Ninh tìm anh T2 về để K đòi tiền anh T2 nên N và H cũng đi cùng để bắt anh T2 về. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, S, T4, N và H gặp anh T2 tại khu vực phường Y (lúc này T4 và Nhất xuống xe, S ngồi ở ghế lái còn H ngồi ở ghế phụ phía trước) S bảo anh T2 “đi uống nước nói chuyện”. Anh T2 tin S và sợ nhóm S, T4, N và H đánh vì vậy đã lên xe ô tô của S ngồi ở giữa ghế phía sau, còn T4 và Nhất ngồi kẹp hai bên để canh giữ anh T2, đồng thời nói với anh T2 “Về gặp anh K nói chuyện”. Khi S, T4, N và H trên đường đưa anh T2 về Hưng Yên thì K sử dụng tài khoản Messenger có tên “Nguyễn T3” nhắn tin đến tài khoản Messenger có tên “Nhất Bướng” của N hỏi N về việc xử lý đối với anh T2 thì N trả lời “Anh T2 vay tiền thì trả bằng tiền”. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày khi về đến địa phận tỉnh Hưng Yên, S gọi điện cho K hỏi đưa anh T2 về đâu thì K chỉ đạo S đưa anh T2 về nhà nghỉ P thuộc thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi về đến nhà nghỉ P, N vào thuê phòng 104, còn S sử dụng tài khoản Zalo có tên “Ngại Va C” nhắn tin vào tài khoản Z “Ng Tuấn” của K thống nhất phương án, cách thức đòi tiền anh T2 là: Giữ anh T2 tại nhà nghỉ P đến khi nào anh T2 có đủ tiền trả cho K thì mới cho anh T2 về và bảo với K bố trí người ở lại cùng S để đòi tiền anh T2. Ngoài ra S còn thống nhất với K ngoài số tiền 80.000.000 đồng anh T2 nợ, phải đòi thêm anh T2 20.000.000 đồng, đồng thời bảo với K giờ S sẽ vào đánh cho anh T2 một trận để K đến đòi tiền anh T2 cho dễ, K đồng ý nhưng không nói cho N, T4 và H biết. Sau đó S, N và H đưa anh T2 vào giữ tại phòng 104 nhà nghỉ P và bắt anh T2 ngồi vào góc giường phía trong, còn T4 thì điều khiển chiếc xe ô tô biển số 30A-821.33 về nhà K. Tại phòng 104 nhà nghỉ P, H bỏ ra 01 gói ma túy tổng hợp (đá), chuẩn bị ống hút bằng nhựa và 01 chai nhựa (H nhặt trong phòng) để lên mặt bàn và cùng với S, N sử dụng trái phép chất ma tuý. Sau đó T4 quay lại phòng 104 và bỏ ra 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 gói nilon bên trong có chứa 03 viên ma túy tổng hợp (ngựa) và 03 gói nilon bên trong chứa ma túy tổng hợp (đá) để trên mặt bàn để cho mọi người sử dụng. Đồng thời T4 cùng với S, N và H sử dụng trái phép số ma túy do T4 vừa mang đến. Sau đó T4 đi mua cơm cho S, N, H và anh T2 rồi đi về nhà. Tiếp theo đó K đến phòng 104 nhà nghỉ P, tại đây K đòi tiền anh T2 thì T2 xin khất trả dần nhưng K không đồng ý. S và Nhất thấy anh T2 không trả tiền cho K cùng với việc anh T2 không thừa nhận lấy trộm chiếc điều hòa nhiệt độ của S trước đó nên đã dùng chân, tay và dùi cui điện đánh và dí điện vào người anh T2 trước mặt K và H. Thấy vậy H can ngăn và bảo với S và N “thôi các anh đừng đánh nó nữa”, có nghĩa là bảo S và N không đánh anh T2 nữa nhưng S và N vẫn tiếp tục đánh anh T2. Đồng thời N nói với anh T2 “nếu không có tiền thì về khóc mẹ mày đi” ý là bảo anh T2 gọi điện về xin tiền mẹ anh T2 để trả cho K. Anh T2 bị đánh nằm dưới sàn nhà la hét và xin N và S.
Lúc này chị Vũ Thị M2 là chủ Nhà nghỉ P nghe thấy tiếng la hét của anh T2 nên đã trình báo đến Cơ quan Công an huyện K. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày thì lực lượng Cơ quan Công an huyện K đến tiến hành kiểm tra phát hiện sự việc nên đã tiến hành lập biên bản và thu giữ những vật chứng liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 568/KL- KTHS(MT) ngày 30/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng là: 7,835 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Viên nén màu hồng trong niêm phong ký hiệu M2 có tổng khối lượng là: 0,114 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 01 niêm phong ghi số 568/KL - KTHS(MT) bên trong có 7,752 gam ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1; 0,093 gam ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M2; 04 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Đình N, Trần Văn T4 và Hồ Thị Thu H tại Trung Tâm Y Tế huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 27/10/2023 xác định: Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Đình N, Trần Văn T4 và Hồ Thị Thu H đều dương tính với chất ma tuý Al và M3.
Tại kết luận giám định số 208/2023/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 12/12/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế, tỉnh Hưng Yên kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Anh T2 tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích trên bờ vai trái là do dạng vật cứng có cạnh, thương tích vùng lưng trái là do dạng vật tầy gây nên.
Đối với hành vi dùng chân tay và dùi cui điện đánh gây thương tích cho anh T2 02% của Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình N. Sau khi sự việc xảy ra, anh T2 không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đồng thời tự nguyện không yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không khởi tố vụ án hình sự. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của S và N tại phòng 104 nhà nghỉ P tối ngày 26/10/2023, Công an huyện K đã đề nghị UBND huyện K ra Quyết định xử phạt hành chính đối với S, N về những hành vi Sử dụng hung khí là công cụ hỗ trợ, Cố ý gây thương tích và Sử dụng trái phép chất ma túy nói trên theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Đông, tỉnh Hưng Yên đã tuyên xử các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình N phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Xuân K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
- - Bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
- - Bị cáo Nguyễn Đình N 01 (một) năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các đồng phạm khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm nêu trên theo Quyết định kháng nghị số 01/QĐ - VKSKĐ với nội dung sau:
- Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 20/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Kim Động, phần áp dụng pháp luật về tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình N.
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: Áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình N phạm các tội Cướp tài sản và Bắt, giữ người trái pháp luật, đồng thời tăng mức hình phạt đối với các bị cáo nói trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo K cho rằng bị cáo chỉ phạm tội Cưỡng đoạt tài sản như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Các bị cáo S và N cho rằng lý do các bị cáo đánh anh T2 là do bị hại không thừa nhận lấy trộm chiếc điều hòa nhiệt độ của S, chứ không phải vì mục đích buộc anh T2 phải trả nợ cho K, nên các bị cáo không phạm tội Cướp tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị; sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo K 01 năm 03 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù về tội Cướp tài sản, xử phạt bị cáo S 01 năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, xử phạt bị cáo N 01 năm tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S, Nguyễn Đình N, Trần Văn T4 và Hồ Thị Thu H, lời khai của bị hại Lê Anh T2, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Xuân K cho anh T2 vay 80.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, mặc dù K đã nhiều lần đòi nhưng anh T2 không trả được nợ. Sau đó anh T2 đi sang tỉnh Quảng Ninh làm việc và cắt liên lạc với K. Đến ngày 25/10/2023, sau khi biết anh T2 đang ở thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nên K đã bảo S và T4 sử dụng xe ô tô của bị cáo đi tìm và đưa anh T2 về để giải quyết việc vay nợ với K. Nhất và H biết việc này nên xin di cùng. Khi gặp được anh T2, nhóm của S lấy lý do bảo anh T2 đi uống nước để nói chuyện, nhưng khi anh T2 lên xe ô tô, nhóm của S đã chở anh T2 về Hưng Yên để gặp K. Trên đường từ Quảng Ninh về Hưng Yên, K cùng nhóm của S đã trao đổi qua điện thoại để thống nhất về cách thức đòi tiền, địa điểm giữ anh T2 đến khi nào anh T2 có tiền trả cho K thì mới cho về. Theo đó, các bị cáo thống nhất yêu cầu anh T2 phải trả bằng tiền, về địa điểm giữ anh T2, ban đầu các bị cáo định giữ anh T2 trong thùng hàng của xe ô tô, sau đó thay đổi và đưa anh T2 về giữ tại nhà nghỉ P, đồng thời S còn thống nhất với K là ngoài số tiền 80.000.000 đồng anh T2 nợ, còn phải đòi thêm 20.000.000 đồng và S sẽ đánh T2 để K đòi nợ cho dễ. Tại nhà nghỉ P, sau khi K đòi tiền anh T2 nhưng không được và lấy lý do nghi ngờ anh T2 lấy trộm chiếc điều hòa của S thì các bị cáo S, N đã dùng chân, tay đánh và dùng dùi cui điện dí vào người anh T2 để buộc anh T2 phải tìm cách trả nợ cho K.
- Hành vi của các bị cáo bắt anh T2 lên xe ô tô và đưa anh T2 từ thành phố H, tỉnh Quảng Ninh về giữ tại nhà nghỉ P thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của tội Bắt giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo K, S, N cùng các đồng phạm khác về tội danh này và áp dụng điều luật là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đồng thời quyết định về hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với vai trò, nhân thân của từng bị cáo, nên được giữ nguyên.
- Xét kháng nghị của VKSND huyện Kim Động cho rằng các bị cáo K, S và Nhất còn phạm tội Cướp tài sản thì thấy: K và S trao đổi, thống nhất ngoài đòi anh T2 số tiền đang nợ là 80.000.000 đồng, còn đòi thêm 20.000.000 đồng, cũng như thống nhất S đánh T2 để K dễ đòi nợ. Bị cáo N tiếp nhận ý chí, đồng tình với cách thức đòi tiền được K và S thống nhất. Tại nhà nghỉ P, sau khi K đòi tiền anh T2 không được, S và N đã đánh anh T2 để buộc anh T2 phải tìm cách trả nợ cho K. Hành vi dùng vũ lực của các bị cáo để buộc bị hại phải trả nợ là hành vi trái pháp luật, nhằm dịch chuyển tài sản của bị hại trái với ý chí của họ nên đã thể hiện đầy đủ ý thức chiếm đoạt tài sản của các bị cáo. Việc các bị cáo K, S và N bàn bạc, thống nhất, đánh anh T2 để buộc bị hại phải trả nợ cho K đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội Cướp tài sản.
- Do các bị cáo, ngoài sử dụng chân tay, còn sử dụng dùi cui điện là hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại, đồng thời số tiền các bị cáo yêu cầu anh T2 phải thanh toán là 80.000.000 đồng. Cho nên, các bị cáo K, S và N đã phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng mặc dù các bị cáo sử dụng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng bị hại không lâm vào tình trạng không thể chống cự được để cho rằng các bị cáo không phạm tội Cướp tài sản, mà phạm tội Cưỡng đoạt tài sản là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, bởi hành vi khách quan của tội Cưỡng đoạt tài sản không bao gồm hành vi dùng vũ lực. Kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung này là có căn cứ, nên được chấp nhận.
- Các bị cáo S và N cho rằng việc đánh anh T2 không phải để buộc anh T2 trả nợ cho K, mà do bực tức trước việc anh T2 không thừa nhận lấy trộm chiếc điều hòa nhiệt độ của S thì thấy, nội dung trình bày này của hai bị cáo không phù hợp với mục đích xuyên suốt ngay từ đầu của các bị cáo đi tìm, bắt giữ, đánh anh T2 để đòi nợ cho K, nên không có cơ sở chấp nhận lời khai ngụy biện của S và N.
- Đánh giá vai trò của ba bị cáo trong tội Cướp tài sản thì thấy, tuy K bảo S đưa anh T2 về gặp K để giải quyết công nợ, nhưng S lại là người khởi xướng, đề xuất đòi thêm số tiền 20.000.000 đồng, đề xuất đánh anh T2 để K đòi nợ cho dễ, đồng thời S cũng là người đánh anh T2 đầu tiên, nên S giữ vai trò chính; Nhất tham gia đánh anh T2 nên giữ vai trò thứ hai; Khoa đồng tình trong việc các đồng phạm đánh bị hại nên giữ vai trò cuối.
- Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét về điều kiện, hoàn cảnh các bị cáo phạm tội là xuất phát từ việc bị hại trốn tránh, không trả nợ mặc dù Khoa đã nhắc nợ nhiều lần để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 BLTTHS.
-
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên về phần quyết định hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình N như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; các điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58 BLHS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 07 (bẩy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Xuân K phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 01 (một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2023.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Trung Thực | Hoàng Tuấn Trọng |
| Nguyễn Thị Hương |
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Hoàng Tuấn Trọng |
Nơi nhận:
- - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
- - VKSND tỉnh Hưng Yên;
- - Phòng HSNV-CA tỉnh Hưng Yên;
- - TAND, VKSND huyện Kim Động;
- - Bị cáo;
- - Bị hại và các đương sự;
- - Trại tạm giam;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.
8
9
Bản án số 27/2025/HS - PT ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về bắt giữ người trái pháp luật và cướp tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Bắt giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bắt giữ người trái pháp luật
