TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 23-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nhị;
Ông Nguyễn Văn Đồ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị L; (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1982; tại: Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: công nhân; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An; Cha: Nguyễn Văn M; Mẹ: Nguyễn Thị B; Chồng: Nguyễn Trọng N; Con có 01 người con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo được tại ngoại điều tra (có mặt).
- Bị hại:
Bà Trần Thị Kim O, sinh năm: 1970. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.(có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Nguyễn Huỳnh Ngọc T, sinh năm: 1975- Chủ tiệm V. Nơi cư trú: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt);
2.Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1968- Chủ tiệm V1. Nơi cư trú: Số G, khu A, Ô, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt);
3. Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 10/11/2024, Nguyễn Thị L đi bộ đến nhà bà Trần Thị Kim O, cách nhà L khoảng 15 mét để xin hoãn trả tiền lãi mà L đã mượn bà O trước đó thì không thấy bà O trong nhà. Lài quan sát xung quanh nhà và nghe tiếng bà O đang trong nhà vệ sinh nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, L lén lút đi vào phòng ngủ của bà O. Tại đây, L phát hiện trên nệm ngủ có 01 lắc đeo tay vàng 18K, 01 chiếc nhẫn kiểu dáng bông mai vàng 18K, 01 chiếc nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18K nên đã lấy số tài sản trên bỏ vào túi quần và đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, L lấy 01 chiếc nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18K và điều khiển xe mô tô Wave màu trắng, biển số 62G1-240.82 mượn của Nguyễn Thành T2 đi đến tiệm V CV cặp Quốc lộ A thuộc Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An để cầm với số tiền 5.000.000 đồng.
Đến ngày 11/11/2024, L đem chiếc nhẫn kiểu dáng bông hoa mai vàng 18K đến tiệm V1, địa chỉ: số G, K1 Ô, đường T, thị trấn T, huyện T, để cầm với số tiền 10.000.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ ngày 14/11/2024, L đến tiệm V1 bán luôn chiếc nhẫn này và lấy thêm được số tiền 3.414.000 đồng. Sau đó, L bị cơ quan Công an mời làm việc. Tại cơ quan Công an L đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp cơ quan Công an chiếc lắc đeo tay vàng 18K và số tiền 2.800.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 1574/KL-HĐĐG ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
01 (một) lắc đeo tay vàng 18K dài 15cm, rộng 03 cm, dạng lưới, trọng lượng 08 (tám) chỉ tại thời điểm ngày 10/11/2024 có giá trị là 42.320.000 đồng;
01 (một) nhẫn kiểu dáng hoa mai vàng 18k, trọng lượng 3,06 (ba phẩy không sáu) chỉ tại thời điểm ngày 10/11/2024 có giá trị là 16.187.000 đồng;
01 (một) nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18k, trọng lượng 2,47 (hai phẩy bốn bảy) chỉ tại thời điểm ngày 10/11/2024 có giá trị là 12.844.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm ngày 10/11/2024 là 71.351.000 đồng (Bảy mươi một triệu, ba trăm năm mươi một nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản”. Bà Kiểm sát viên phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 10/11/2024, tại nhà bà Trần Thị Kim O, bị cáo Nguyễn Thị L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 lắc đeo tay vàng 18K, 01 chiếc nhẫn kiểu dáng bông mai vàng 18K, 01 chiếc nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18K của bà O với tổng giá trị 71.351.000 đồng (Bảy mươi một triệu, ba trăm năm mươi một nghìn đồng). Do đó hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo L đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt tù để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bà Trần Thị Kim O đã được bồi thường (17.000.000đ) và nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[6] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm: Tiền Việt Nam: 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) Nguyễn Thị L bán chiếc nhẫn kiểu dáng hoa mai tại tiệm V1 chưa tiêu xài hết; Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng của Nguyễn Thị L tự nguyện giao nộp để trả lại cho tiệm V. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả số tiền 5.000.000đ cho chủ tiệm V là bà Nguyễn Huỳnh Ngọc T; 01 (một) lắc đeo tay vàng 18K dài 15cm, rộng 03 cm, dạng lưới, trọng lượng 08 (tám) chỉ và 01 (một) nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18k, trọng lượng 2,47 (hai phẩy bốn bảy) chỉ. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bị hại Trần Thị Kim O. Xét thấy:
[6.1] Đối với 01 (một) lắc đeo tay vàng 18K dài 15cm, rộng 03 cm, dạng lưới, trọng lượng 08 (tám) chỉ và 01 (một) nhẫn kiểu dáng Chenel vàng 18k, trọng lượng 2,47 (hai phẩy bốn bảy) chỉ là tài sản của bà O nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho bị hại Trần Thị Kim O là đúng pháp luật;
[6.2] Đối với 5.000.000 đồng của Nguyễn Thị L tự nguyện giao nộp để trả lại cho tiệm V CV nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả số tiền 5.000.000đ cho chủ tiệm V CV là bà Nguyễn Huỳnh Ngọc T là phù hợp pháp luật;
[6.3] Đối với 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) Nguyễn Thị L bán chiếc nhẫn kiểu dáng hoa mai tại tiệm V1 chưa tiêu xài hết tuy nhiên bị cáo L đã bồi thường cho bà O 17.000.000đ là trị giá của chiếc nhẫn này nên số tiền 2.800.000đ được trả lại cho bị cáo L. Ngày 04/4/2025 Điều tra viên Nguyễn Đăng K đã trả lại cho bị cáo L 2.800.000₫ là đúng pháp luật.
[7] Đối với bà Nguyễn Huỳnh Ngọc T là chủ tiệm V, khi nhận cầm chiếc nhẫn kiểu dáng C, bà T không biết chiếc nhẫn L cầm là tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[8] Đối với bà Nguyễn Thị T1 là chủ tiệm V1, khi L đến cầm và bán chiếc nhẫn kiểu dáng hoa mai, bà T1 không biết là tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[9] Đối với anh Nguyễn Thành T2 đã cho L mượn chiếc xe mô tô Wave màu trắng biển số 62G1-240.82 đi cầm nhẫn, anh T2 không biết việc L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo thi hành án phạt tù.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23-5-2025). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lài
