Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 27/2025/HS - PT

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương và bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 207/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 197/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025.

- Bị cáo kháng cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày 13/6/1980; nơi sinh: huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Đỗ Thị T1; vợ là chị Đặng Thị T2 và có 03 con.

Tiền án: Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Văn T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: từ tháng 02/2003 đến tháng 01/2005 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Đ – Quân khu Thủ đô.

Bố bị cáo: ông Phạm Văn H là bệnh binh, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng, Huân chương chiến công, Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Huy hiệu toàn thắng.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Trần Ngọc A, sinh năm 2009 (đã chết);

Nơi cư trú: trú tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Xuân B, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị O, sinh năm 1981 - là bố và mẹ đẻ của bị hại;

Đều cư trú: Số nhà B, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị O: Ông Trần Xuân B, ( có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 22/6/2024, bị cáo Phạm Văn T (có giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số [...], có giá trị đến ngày 06/7/2028; không sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích khác), điều khiển xe ô tô đầu kéo hiệu Cheng Long, biển số đăng ký 17C-132.48 kéo theo sơ mi rơmooc tải hiệu XinHong Dong, biển số đăng ký 17R-006.55, trên xe chở 34,5 tấn xi măng đi trên đường H, thành phố T hướng đi đường Q, thành phố T với tốc độ khoảng 50 km/giờ, đi ở làn đường giữa của chiều đường theo chiều đi của bị cáo. Lúc này trời tối và không mưa, đường khô, trên đường có ánh sáng đèn đường chiếu sáng, mật độ giao thông bình thường. Khi T điều khiển xe đến khu vực ngã tư đường Q giao đường T thuộc địa phận tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình (khu vực ngã tư không có bục vòng xuyến, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông hoạt động bình thường), T quan sát đèn giao thông tại khu vực ngã tư đang hiển thị màu xanh còn 7 giây. Lúc này do xe đang có trọng tải, bị cáo T không chú ý quan sát, không giảm tốc khi vào khu vực ngã tư, nên phần

má ngoài của lốp bên phải trục hai đầu kéo biển số đăng ký 17C-132.48 va chạm với đầu ngoài phía trên ốp cao su tay nắm lái bên phải của xe máy điện 17MĐ9-119.65 do cháu Trần Ngọc A điều khiển đi theo hướng từ đường D, phường P, thành phố T rẽ phải đi đường Q, thành phố T. Hậu quả cháu Trần Ngọc A bị xe ô tô do T điều khiển chèn qua người, dập nát toàn bộ xương sọ và xương vùng mặt, dập nát não, tử vong tại hiện trường. Xe máy điện bị hư hỏng nhẹ.

Bản kết luận giám định số 967/KLGĐTT-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da, trợt miết da, rách toác da cơ, dập nát tổ chức da cơ, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Gãy vỡ xương bả vai hai bên, xương cột sống, xương đòn, xương sườn, xương ức và gãy vỡ phức tạp toàn bộ khung chậu. Khám trong: Dập nát toàn bộ xương sọ và xương vùng mặt, dập nát não. Kết luận: Nạn nhân Trần Ngọc A chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương

Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, chuyển 06 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 51/2023/HS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình thành 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

    Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo Phạm Văn Thành nghề lái xe vận tải trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận ngày 04/7/2024, bị cáo Phạm Văn T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về dân sự cho gia đình ông Trần Xuân B, sinh năm 1976 và chị Đỗ Thị O, sinh năm 1981, đều cư trú: Số nhà B, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, là người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Trần Ngọc A, số tiền

120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng), gồm: Tiền tiền mai táng phí cho bị hại; tiền tổn thất tinh thần cho bố, mẹ và em của bị hại.

Chấp nhận gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và không có ý kiến, yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự đối với bị cáo Phạm Văn T.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/11/2024 bị cáo Phạm Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình nuôi dạy con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm phương tiện; Biên bản khám nghiệm tử thi, bản ảnh tử thi; Bản kết luận giám định tử thi; Phiếu đo nồng độ cồn; lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; lời khai của người làm chứng. Do đó có cơ sở xác định: khoảng 22 giờ 43 phút ngày 22/6/2024, Phạm Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ mooc tải, đi trên đường H hướng đi đường Q. Khi T điều khiển xe đến ngã tư đường Q giao đường T, thuộc địa phận tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào nơi giao nhau nên nên phần má ngoài của lốp bên phải trục hai đầu kéo biển số đăng ký 17C-132.48 va chạm với đầu ngoài phía trên ốp cao su tay nắm lái bên phải của xe máy điện do cháu Trần Ngọc A điều khiển đi theo hướng từ đường

D rẽ phải đi đường Q. Hậu quả cháu Trần Ngọc A tử vong tại hiện trường do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 8, Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Toà án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, mặc dù bị cáo đang trong thời gian thử thách của án treo nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự công cộng dẫn đến thiệt hại tính mạng của cháu Ngọc A. Do vậy Tòa án sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Toà án sơ thẩm xác định bị cáo có tiền án nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là thiếu sót.

Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, có thời gian than gia nghĩa vụ quân sự và bố bị cáo là người có công với cách mạng được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy căn cứ vào hành vi, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, do vậy áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số

197/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

  1. Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 25 tháng 02 năm 2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - CA tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND tp Thái Bình;
  • - Chi cục THA tp Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS - PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 27/2025/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 16/5/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger