|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 15-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tuyến và bà Lê Thị Thanh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS, ngày 01/4/2025, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 28/10/1996, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú, chỗ ở: Xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị O, sinh năm 1969; chồng: Phạm Ngọc T1, sinh năm 1988; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
-
Quân Ngọc M, sinh ngày 01/01/1987, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Quan Ngọc V, sinh năm 1962 và bà Trương Thị T2, sinh năm 1962; vợ: Lưu Thị T3 (đã chết); con: có 01 con, sinh năm 2009. Đảng đoàn thể: Là Đảng viên Đ2, đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng tại Quyết định số 120-QĐ/UBKTHU ngày 20/3/2025 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy C2.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Quân Ngọc M: Bà Vũ Thanh T4 – Trợ giúp viên Pháp lý, Công tác tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Lương Mạnh H1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C (nguyên là xóm Đ, xã B), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có mặt;
- + Ông Quan Ngọc V, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/8/2014, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần T7, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên do Nguyễn Thị Thu H là Giám đốc, trực tiếp điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Ngày 08/02/2021, Công ty T7 được Bộ C3 cấp giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu. Sau đó, Công ty Cổ phần T7 mở các điểm kinh doanh xăng dầu bằng thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Bắc Giang và tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 95/2021/NĐ-CP ngày 01-11-2021, Nghị định số 80/2023/NĐ-CP ngày 17/11/2023) và Thông tư số 38/2014/TT-BCT, ngày 24/10/2014 của Bộ C3 (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 17/2021/TT-BCT ngày 15/11/2021) về kinh doanh xăng dầu “thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ là thiết bị bao gồm đồng hồ đo xăng dầu và thùng chứa xăng, dầu có sức chứa tĩnh tại nhiệt độ thực tế không quá 200 lít/thiết bị”.
Khoảng tháng 7/2023, Quân Ngọc M và Lưu Thị T3 (vợ M) cùng trú tại thôn B, xã T, huyện C có nhu cầu kinh doanh xăng dầu bằng thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ tại nơi cư trú của mình nên đã cùng nhau liên hệ với Nguyễn Thị Thu H để thỏa thuận, ký kết hợp đồng kinh doanh xăng dầu.
Tháng 8/2023, Quân Ngọc M và Lưu Thị T3 xây dựng một ki ốt bên cạnh nhà ở của mình tại thôn B, xã T, huyện C. Sau khi xây dựng ki ốt xong, T3 tự liên hệ mua 02 thiết bị bán xăng dầu, mỗi thiết bị gắn 01 phi chứa xăng dầu, mỗi phi có thể tích 200 lít. Sau khi mua sắm được các thiết bị nêu trên, M và T3 tiến hành lắp đặt thành hệ thống bán xăng dầu tại khu vực ki ốt nêu trên. Cũng trong thời gian này, ngoài việc xây dựng cơ sở vật chất của điểm bán xăng dầu. Lưu Thị Thế qua tìm hiểu còn được biết, để được cơ quan chức năng cấp phép kinh doanh xăng dầu, người bán phải có Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứ hộ do Cơ quan có thẩm quyền cấp nên khoảng đầu tháng 8/2023, Lưu Thị T3 liên hệ lấy được 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ số 0489593, người ký Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng - Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H cấp ngày 14/8/2023 cho Quân Ngọc M rồi đem về đưa cho Quân Ngọc M. Quân Ngọc M biết giấy chứng nhận nêu trên là giả vì M không được tham gia huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ do Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H tổ chức nhưng M vẫn đem đi cất, mục đích để xuất trình khi bị lực lượng chức năng kiểm tra cơ sở kinh doanh xăng dầu của mình.
Sau khi xây dựng xong điểm bán và chuẩn bị xong các giấy tờ cần thiết, Lưu Thị T3 và Nguyễn Thị Thu H thực hiện làm hồ sơ thủ tục đăng ký kinh doanh của điểm bán dưới hình thức là điểm bán xăng dầu trực thuộc của Công ty Cổ phần T7.
Ngày 04/8/2023, Sở Công thương tỉnh T ban hành Giấy tiếp nhận thông báo kinh doanh xăng dầu bằng thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ số 15/TNTB-SCT, cho điểm bán hàng xăng dầu số 17 - T của Công ty Cổ phần T7, địa chỉ tại thôn B, xã T, huyện C. Ngày 07/9/2023, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh cho địa điểm kinh doanh bán lẻ xăng dầu số 17 - Công ty Cổ phần T7, cùng ngày Công ty Cổ phần T7 ký hợp đồng lao động số 01-07092023/HĐLĐ với Quân Ngọc M và bổ nhiệm Quân Ngọc M làm Trưởng điểm bán.
Ngày 27/11/2023, tổ công tác của Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an tỉnh T thực hiện kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với điểm bán xăng dầu số 17 - T. Tại thời điểm kiểm tra, Quân Ngọc M đã sử dụng Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứ hộ số 0489593 để xuất trình cho tổ công tác.
Quá trình kinh doanh đến cuối năm 2023, Quân Ngọc M và Lưu Thị T3 thấy để tiết giảm chi phí và tăng lợi nhuận bằng việc tăng thể tích bể chứa nên M và T3 mua 01 bồn chứa thể tích 07 mét khối để lắp đặt tại phía sau khu vực bán hàng của cửa hàng (không xác định được địa chỉ T3 mua bồn chứa). Sau khi lắp đặt thêm bồn chứa nêu trên, T3 và M thông báo cho Nguyễn Thị Thu H biết để đưa vào sử dụng. Từ cuối năm 2023 đến ngày 24/8/2024, Nguyễn Thị Thu H nhiều lần phân công anh Lương Mạnh H1 sinh năm 1996, trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là lái xe của Công ty V1 cấp vào bồn chứa nêu trên (không xác định được số lần cụ thể; H1 không biết việc lắp đặt thêm bồn chứa xăng là trái quy định).
Ngày 08/8/2024, tổ công tác của Phòng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh T tiếp tục thực hiện kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ đối với Đ bán xăng dầu số A - T. Tại thời điểm làm việc, M tiếp tục sử dụng Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ số 0489593 để xuất trình cho tổ công tác kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện điểm bán lắp đặt bồn chứa xăng dầu có thể tích 07 mét khối không đúng với quy định. Tổ công tác đã lập biên bản và yêu cầu Nguyễn Thị Thu H và Quân Ngọc M thực hiện di dời bồn chứa ra khỏi điểm bán. Ngày 21/8/2024, Lưu Thị T3 thuê Quan Văn S điều khiển máy cuốc đào, di dời bồn chứa nêu trên và chụp ảnh báo cáo Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và C nạn cứu hộ Công an tỉnh T về việc di dời nhưng ngay sau đó, Nguyễn Thị Thu H lại chỉ đạo Lưu Thị T3 và Q lại bồn chứa nêu trên vào vị trí cũ và lấp đất lại để tiếp tục sử dụng.
Ngày 24/8/2024, anh H1 điều khiển xe ô tô xi téc biển số 29K-080.39 vận chuyển xăng đến giao cho điểm bán xăng dầu số 17 - T theo sự phân công của H. Khoảng 19 giờ ngày 24/8/2024, H1 điều khiển xe ô tô đến điểm bán nêu trên. Lúc này M không có mặt ở nhà, T3 cùng H1 sang chiết xăng từ xe ô tô xi téc sang bồn chứa có thể tích 07 mét khối. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi vừa sang chiết xăng vào bồn chứa xong, H1 đang chuẩn bị tháo ống dẫn xăng ra khỏi cửa của bồn chứa để cất thì T3 cắm điện bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai” để khởi động máy bơm được lắp đặt tại khu vực bể chứa để hút xăng từ bồn chứa vào máy bán hàng làm phát sinh tia lửa điện tiếp xúc với hỗn hợp xăng (hơi xăng), dầu (hơi dầu) và ô xy (không khí) gây cháy lan ra xung quanh, hậu quả T3 và H1 bị bỏng, được đưa đi điều trị tại Bệnh viện B – Học viện Q1. Đến ngày 09/9/2024 thì Lưu Thị Thế C1.
Tại Kết luận giám định số 1208/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Vị trí xuất phát cháy tại khu vực bể chứa của điểm bán xăng dầu số A - T. Nguyên nhân cháy: Do tia lửa điện sinh ra trong quá trình 02 đầu kẹp kim loại (có nối với dây dẫn điện) của máy bơm đặt tại khu vực bể chứa của điểm bán xăng dầu số A - T tiếp xúc trực tiếp với các bản cực của bình ắc quy “dongnai” gặp hỗn hợp xăng (hơi xăng), dầu (hơi dầu) và ô xy (không khí) gây cháy lán ra xung quanh.
Tại Kết luận giám định số 301/KL-KTHS ngày 21/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Phôi “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” cần giám định ký hiệu A1 với phôi “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không cùng loại phôi; Không đủ cơ sở kết luận hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M3 có phải do cùng một con dấu đóng ra hay không; Chữ ký đứng tên Đỗ Tuấn A trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với chữ ký đứng tên Đỗ Tuấn A trên mẫu so sánh ký hiệu M4 là do cùng một người ký.
Tại Kết luận giám định tử thi số 1182/KL-KTHS ngày 26/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đối với tử thi Lưu Thị T3: Nguyên nhân chết do bỏng nhiệt khô độ 2, 3, 4 toàn thân; bỏng đường hô hấp; đã phẫu thuật cắt hoại tử, ghé da tự thân ngày thứ 11; biến chứng nhiễm khuẩn huyết, suy đa tạng.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 250/2024/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Mạnh H1 tại thời điểm giám định là 56 %.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSCH, ngày 16 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố:
Nguyễn Thị Thu H về tội: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự;
Quân Ngọc M về tội: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”;
Tuyên bố bị cáo Quân Ngọc M phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 313, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 35, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 313, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 35, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quân Ngọc M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”; áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Quân Ngọc M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội theo quy định. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra Nguyễn Thị Thu H đã bồi thường cho anh Lương Mạnh H1 5.000.000 đồng. Anh H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H đối với anh H1.
Trước khi mở phiên tòa bị cáo Quân Ngọc M đã bồi thường cho anh Lương Mạnh H1 số tiền 50.000.000 đồng, anh H1 không yêu cầu bị cáo M bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ bồi thường của bị cáo M đối với anh H1.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Trả lại bị cáo Quân Ngọc M: 01 bồn chứa bằng kim loại, hình trụ tròn, dài 300 cm, đáy bồn hình tròn có bán kính 87,5 cm, bên trong chia làm hai ngăn, mỗi ngăn có một nắp bồn bằng kim loại được đóng kín có thiết kế hệ thống nối đường ống dẫn; 01 (Một) bình ắc quy nhãn hiệu "dongnai", màu trắng - đen, bề mặt trên có 05 cực, bám dính nhiều chất bột màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) bình ắc quy nhãn hiệu GS GTZ6V màu đen, kích thước (10,5x11x6,5) cm, trên bề mặt bám dính nhiều bụi đất màu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) máy bơm nhãn hiệu HPM, bên trên máy bơm có ghi chữ "Dâu", kích thước (19,5x16x15)cm, có đầu dây nguồn dài 1,3m, đấu nối 02 kẹp kim loại màu đỏ và màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) máy bơm nhãn hiệu HPM, bên trên máy bơm có ghi chữ "Xăng", kích thước (19,5x16x15) cm, có đầu dây nguồn dài 1,3m, đầu nối 02 kẹp kim loại màu đỏ và màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 06 m, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 6.5 m, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 6.5 m, cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 03 m, trong đó 1,5m bị cháy than hóa lộ lõi kim loại, cũ đã qua sử dụng; 01 chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ số 85/QĐ-TT2, vào sổ số 24 của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
Trả lại Lương Mạnh H1 01 Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình huấn luyện an toàn hàng hóa nguy hiểm.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Thu H đối với các tài liệu, giấy tờ đã thu giữ của Công ty Cổ phần T7 gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, mã số địa điểm kinh doanh: 00005 do Phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp; 01 Giấy chứng nhận Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt số 23/01/05/TSTH/P000812/01 do Tổng Công ty B1, Công ty B2 cấp ngày 06/11/2023; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 193/ĐHXD 2023 do Công ty TNHH T8 cấp ngày 08/7/2023; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 194/ĐHXD 2023 do Công ty TNHH T8 cấp ngày 08/7/2023; 01 Giấy kiểm định đối với P chứa xăng dầu cho đồng hồ xăng dầu (Tem kiểm định số A0829) do Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng N1 cấp ngày 07/7/2023; 01 Giấy kiểm định đối với P chứa xăng dầu cho đồng hồ xăng dầu (Tem kiểm định số A0830) do Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng N1 cấp ngày 07/7/2023;
Trả lại ông Quan Ngọc V 02 thẻ nhớ đã thu giữ trong 02 (hai) bì niêm phong dán kín, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Quan Thị N, Quan Ngọc V và 05 hình dấu của UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ số 0489593, người ký Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng - Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H cấp ngày 14/8/2023 cho Quân Ngọc M.
Đối với hành vi vi phạm của Lưu Thị Thế . Sau khi sự việc xảy ra, T3 đã bị chết nên không đề cập xử lý.
Đối với Lương Mạnh H1, quá trình điều khiển phương tiện cung cấp xăng dầu cho điểm bán xăng dầu số 17 - T thuộc thôn Bản Tụm, xã T, huyện C theo sự phân công của Nguyễn Thị Thu H, H1 không biết việc lắp đặt thêm bồn chứa xăng tại điểm bán nêu trên là trái quy định nên không đề cập xử lý.
Đối với Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an thành phố H, người đã ký tên tại Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ có số 0489593. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Văn bản kiến nghị số 72/CV-ĐCSHSKTMT ngày 25/02/2025, kèm theo tài liệu liên quan gửi đến Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an thành phố H đề nghị xác minh làm rõ theo quy định.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo M và tuyên quyền kháng cáo Bản án đối với các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Quân Ngọc M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lương Mạnh H1 số tiền 50.000.000 đồng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo được Chủ tịch UBND xã T, Đảng ủy xã T tặng Giấy khen các năm 2016, 2019, 2020; bị cáo có mẹ là Trương Thị T2 được UBND huyện C2 tặng giấy khen Giáo viên dạy giỏi, Huyện Đ và Phòng Giáo dục và đào tạo huyện C chứng nhận Tổng phụ trách giỏi; được Bộ G và đào tạo tặng Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; bị cáo có ông nội Quân Văn H2 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và được tặng Bằng khen; gia đình bị cáo là gia đình liệt sĩ Quân Văn T5, được nhà nước tặng Bằng Tổ quốc ghi công nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 313, điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của từng tội danh mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Quân Ngọc M tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, không có ý kiến tranh luận, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tới mức thấp nhất cho các bị cáo và đề nghị cho các bị cáo được chấp hành án tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Quân Ngọc M đều khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản tự khai, biên bản ghi lời khai, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Điểm bán xăng dầu số 17 - T thuộc thôn Bản Tụm, xã T, huyện C là điểm bán xăng dầu bằng thiết bị bán xăng dầu quy mô nhỏ trực thuộc Công ty Cổ phần T7 do Nguyễn Thị Thu H - là Giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và Quân Ngọc M - là T6 điểm bán được Công ty Cổ phần T7 giao trách nhiệm quản lý và thực hiện bán hàng tại điểm bán nêu trên. Điểm bán được bố trí lắp đặt 02 thiết bị bán xăng dầu, mỗi thiết bị được phép chứa tối đa không quá 200 lít xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 95/2021/NĐ-CP ngày 01-11-2021, Nghị định số 80/2023/NĐ-CP ngày 17/11/2023) và Thông tư số 38/2014/TT-BCT, ngày 24/10/2014 của Bộ C3 (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 17/2021/TT-BCT ngày 15/11/2021) về kinh doanh xăng dầu. Nguyễn Thị Thu H và Quân Ngọc M biết rõ quy định của pháp luật về việc thiết kế điểm bán xăng dầu nêu trên chỉ được chứa tối đa không quá 400 lít xăng dầu, nhưng vì mục đích vụ lợi, mong muốn kiếm được nhiều lợi nhuận từ việc bán xăng dầu nên đã tự bố trí, lắp đặt thêm 01 bồn chứa xăng dầu có thể tích 07 mét khối là vi phạm các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy dẫn đến ngày 24/8/2024, trong quá trình Lưu Thị T3 và Lương Mạnh H1 bơm, hút xăng dầu từ bồn chứa nêu trên xảy ra cháy. Hậu quả Lưu Thị T3 bị chết do bỏng nhiệt khô độ 2, 3, 4 toàn thân; bỏng đường hô hấp; đã phẫu thuật cắt hoại tử, ghé da tự thân ngày thứ 11; biến chứng nhiễm khuẩn huyết, suy đa tạng. Anh Lương Mạnh H1 bị thương tích, tổn hại 56% sức khỏe do bị bỏng.
Trong các ngày 27/11/2023, 08/8/2024, tại thôn Bản Tụm, xã T, Quân Ngọc M đã có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là 01 Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ có số 0489593 để xuất trình khi tổ công tác của Phòng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh T thực hiện kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ đối với Đ bán xăng dầu số A - T.
Như vậy, hành vi của Nguyễn Thị Thu H đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Quân Ngọc Minh Đ1 yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo H, M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H, M đã tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Mạnh H1 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Quân Ngọc M có mẹ đẻ Trương Thị T2 được Huyện Đ, Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Chiêm Hóa tặng Giấy chứng nhận Tổng phụ trách giỏi cấp huyện; được UBND huyện C2 tặng danh hiệu Giáo viên giỏi cấp cơ sở và được tặng Bộ Giáo dục và đào tạo tặng Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; bản thân bị cáo M được Ban chấp hành Đảng bộ xã T tặng Giấy khen năm 2019, 2020; được Chủ tịch UBND xã T tặng Giấy khen năm 2016; bị cáo có ông nội Quân Văn H2 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và được tặng Bằng khen; gia đình bị cáo là gia đình liệt sĩ Quân Văn T5, được nhà nước tặng Bằng Tổ quốc ghi công; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt.
[4.1]. Về hình phạt chính:
Nguyễn Thị Thu H, Quân Ngọc M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, đều biết rõ điểm bán xăng dầu chỉ được phép lắp đặt 02 thiết bị bán xăng dầu, mỗi thiết bị được phép chứa tối đa không quá 200 lít xăng dầu, việc điểm bán số 17 lắp đặt bồn chứa xăng dầu có thể tích 07m³ và dùng thiết bị để bơm xăng dầu từ bể chứa lên thiết bị bán là không đảm bảo, vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy. Các bị cáo H, M cùng thực hiện một tội phạm nhưng không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nên xác định đây là vụ án có tính chất đồng phạm, ở mức độ giản đơn.
Quân Ngọc M nhận thức để được cơ quan chức năng cấp phép kinh doanh xăng dầu, người bán phải có Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứ hộ do Cơ quan có thẩm quyền cấp; M không được tham gia huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ do Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H tổ chức nhưng vẫn có giấy chứng nhận và sử dụng xuất trình khi cơ quan chức năng kiểm tra.
Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án thấy rằng: Hành vi vi phạm của bị cáo H, M dẫn đến xảy ra hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân nên cần phải xét xử và lên mức hình phạt với các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Áp dụng Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo, quyết định hình phạt đối với bị cáo H cao hơn hình phạt áp dụng với bị cáo M về tội Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để người phạm tội tự nguyện cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (được hưởng án treo), như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Quân Ngọc M là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội (cả hai tội đều là tội nghiêm trọng) nên bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo M cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung với mức hình phạt khởi điểm của từng tội danh như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội.
[4.2]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 313, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo mức khởi điểm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bổ sung đối với bị cáo M.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo H đã bồi thường cho anh Lương Mạnh H1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); trước khi mở phiên tòa bị cáo M đã bồi thường cho anh Lương Mạnh H1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa anh H1 không yêu cầu bị cáo H, bị cáo H1 phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 bồn chứa bằng kim loại, hình trụ tròn, dài 300 cm, đáy bồn hình tròn có bán kính 87,5 cm, bên trong chia làm hai ngăn, mỗi ngăn có một nắp bồn bằng kim loại được đóng kín có thiết kế hệ thống nối đường ống dẫn; 01 bình ắc quy nhãn hiệu “dongnai” đã qua sử dụng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS GTZ6V đã qua sử dụng; 02 máy bơm nhãn hiệu HPM đã qua sử dụng; 01 ống dẫn, có đường kính 3,3cm, chiều dài 06m đã qua sử dụng; 01 ống dẫn, có đường kính 3,3cm, chiều dài 6,5m đã qua sử dụng; 01 ống dẫn, có đường kính 3,3cm, chiều dài 03m, trong đó 1,5m bị cháy than hóa lộ lõi kim loại đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo M nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình huấn luyện an toàn hàng hóa nguy hiểm là tài liệu của Lương Mạnh H1 nên cần trả lại cho H1 Giấy chứng nhận này.
- Trả lại bị cáo Quân Ngọc M 01 chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ số 85/QĐ-TT2, vào sổ số 24 của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ;
- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Thu H đối với các tài liệu, giấy tờ đã thu giữ.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ số 0489593, người ký Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng - Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H cấp ngày 14/8/2023 cho Quân Ngọc M là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo M, giấy chứng nhận được giao kèm hồ sơ vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án;
- Trả lại ông Quan Ngọc V 02 thẻ nhớ đã thu giữ.
[7]. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[8]. Về vấn đề khác:
Đối với hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy của Lưu Thị T3, sau khi sự việc xảy ra, T3 đã bị chết nên không đề cập xử lý trách nhiệm về hình sự và không xác định Lưu Thị Thế L bị hại trong vụ án.
Đối với Lương Mạnh H1, quá trình điều khiển phương tiện cung cấp xăng dầu cho điểm bán xăng dầu số 17 - T thuộc thôn Bản Tụm, xã T, huyện C theo sự phân công của Nguyễn Thị Thu H, H1 không biết việc lắp đặt thêm bồn chứa xăng tại điểm bán nêu trên là trái quy định nên không đề cập xử lý.
Đối với Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an thành phố H, người đã ký tên tại Chứng nhận huấn luyện nghiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ có số 0489593. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Văn bản kiến nghị số 72/CV-ĐCSHSKTMT ngày 25/02/2025, kèm theo tài liệu liên quan gửi đến Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an thành phố H đề nghị xác minh làm rõ theo quy định.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Quân Ngọc M là dân tộc thiểu số, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn tiền án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
Tuyên bố bị cáo Quân Ngọc M phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
-
Về hình phạt chính:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 313, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, 38, 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị Thu H 02 (hai) năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15/4/2025.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 313, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quân Ngọc M 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Quân Ngọc M 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã N2 bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 313 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Thu H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 313, khoản 4 Điều 341, Điều 55 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Quân Ngọc M 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) về tội Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy; 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt bổ sung là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại bị cáo Quân Ngọc M:
+ 01 bồn chứa bằng kim loại, hình trụ tròn, dài 300 cm, đáy bồn hình tròn có bán kính 87,5 cm, bên trong chia làm hai ngăn, mỗi ngăn có một nắp bồn bằng kim loại được đóng kín có thiết kế hệ thống nối đường ống dẫn;
+ 01 (Một) bình ắc quy nhãn hiệu "dongnai", màu trắng - đen, bề mặt trên có 05 cực, bám dính nhiều chất bột màu trắng, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) bình ắc quy nhãn hiệu GS GTZ6V màu đen, kích thước (10,5x11x6,5) cm, trên bề mặt bám dính nhiều bụi đất màu vàng, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) máy bơm nhãn hiệu HPM, bên trên máy bơm có ghi chữ "Dâu", kích thước (19,5x16x15)cm, có đầu dây nguồn dài 1,3m, đấu nối 02 kẹp kim loại màu đỏ và màu đen, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) máy bơm nhãn hiệu HPM, bên trên máy bơm có ghi chữ "Xăng", kích thước (19,5x16x15) cm, có đầu dây nguồn dài 1,3m, đầu nối 02 kẹp kim loại màu đỏ và màu đen, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 06 m, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 6.5 m, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 6.5 m, cũ đã qua sử dụng;
+ 01 (Một) ống dẫn, có đường kính 3,3 cm, chiều dài 03 m, trong đó 1,5m bị cháy than hóa lộ lõi kim loại, cũ đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng nêu trên như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
- Trả lại Lương Mạnh H1 01 Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình huấn luyện an toàn hàng hóa nguy hiểm.
- Trả lại bị cáo Quân Ngọc M 01 chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ số 85/QĐ-TT2, vào sổ số 24 của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ;
- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Thu H đối với các tài liệu, giấy tờ đã thu giữ của Công ty Cổ phần T7 gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, mã số địa điểm kinh doanh: 00005 do Phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp; 01 Giấy chứng nhận Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt số 23/01/05/TSTH/P000812/01 do Tổng Công ty B1, Công ty B2 cấp ngày 06/11/2023; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 193/ĐHXD 2023 do Công ty TNHH T8 cấp ngày 08/7/2023; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 194/ĐHXD 2023 do Công ty TNHH T8 cấp ngày 08/7/2023; 01 Giấy kiểm định đối với P chứa xăng dầu cho đồng hồ xăng dầu (Tem kiểm định số A0829) do Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng N1 cấp ngày 07/7/2023; 01 Giấy kiểm định đối với P chứa xăng dầu cho đồng hồ xăng dầu (Tem kiểm định số A0830) do Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng N1 cấp ngày 07/7/2023;
- Trả lại ông Quan Ngọc V 02 thẻ nhớ đã thu giữ trong 02 (hai) bì niêm phong dán kín, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Quan Thị N, Quan Ngọc V và 05 hình dấu của UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
- Lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ số 0489593, người ký Đỗ Tuấn A - Phó trưởng phòng - Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành phố H cấp ngày 14/8/2023 cho Quân Ngọc M.
(Các tài liệu, đồ vật trên được chuyển kèm hồ sơ vụ án theo biên bản giao nhận hồ sơ ngày 17/3/2025 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa và Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa).
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quân Ngọc M.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |
15
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Xuân Tuyến – Lê Thị Thanh Tâm |
Lê Tuấn Tú |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy và tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H, Quân Ngọc M phạm tội Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
