|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2025 V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H - sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
*Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Q – sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
Nguyên quán và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V – sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1956 (đều có mặt)
Đều có HKTT: Thôn T, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa anh Nguyễn Văn H là nguyên đơn trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Q qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 2012. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Đồng thời do làm ăn thua lỗ dẫn đến kinh tế khó khăn và chị Q đã về ngoại sống ly thân hai năm nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ly thân đã lâu mục đích hôn nhân không đạt nên anh cương quyết xin ly hôn chị Q. Về con chung: có 02 con là Nguyễn Đức B – sinh ngày 21/02/2013 và Nguyễn Thị Phương D – sinh ngày 01/8/2016, hiện hai cháu đang ở với chị Q và ông bà ngoại. Khi ly hôn, do các cháu đang ở ổn định với chị Q và chị Q có nguyện vọng nuôi hai con nên anh đồng ý để chị Q nuôi hai con và anh sẽ cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho chị Q nuôi con đến khi các con thành niên. Về tài sản, công nợ chung: anh không đề nghị Toà giải quyết.
Bị đơn – chị Nguyễn Thị Q không có quan điểm ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị T trình bày: ông bà là bố mẹ đẻ chị Nguyễn Thị Q. Do chị Q bận đi làm và không muốn gặp anh H nên không đến Toà làm việc. Xong gia đình ông bà cũng như chị Q tôn trọng quyết định việc anh H ly hôn chị Q. Xong về con chung thì hai anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức B – sinh ngày 21/02/2013 và Nguyễn Thị Phương D – sinh ngày 01/8/2016. Khi hai anh chị đi làm ăn xa đều gửi con cho ông bà chăm sóc, không đỡ đần ông bà một đồng tiền nào vì làm ăn thua lỗ. Nay anh chị ly hôn, ông bà không có đề nghị gì liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu chỉ mong Toà xem xét để chị Q nuôi cả hai con vì các cháu cũng có mong muốn ở với mẹ và ông bà ngoại. Đồng thời tiền cấp dưỡng gia đình không có đề nghị gì mà để anh H tự chủ động có trách nhiệm với con sao cho các con đỡ thiệt thòi.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị Q. Về con chung: giao chị Q là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Đức B sinh ngày 21/02/2013 và Nguyễn Thị Phương D – sinh ngày 01/8/2016; anh H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng cho cho đến khi các cháu thành niên hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Anh H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H1 đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn H có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Q và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là chị Nguyễn Thị Q có đăng ký nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội và hiện đang sinh sống: thôn T, xã T, huyện Ứ, TP . nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/3/2025 nhưng vắng mặt của chị Q nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai chị Q vắng mặt không có lý do chính đáng, anh H có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Đ, huyện Ứ, TP . ngày 24/5/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân hai năm nay. Sau khi có đơn xin lý hôn, chị Q không có quan điểm ý kiến, không đến Toà làm việc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng anh H và chị Q mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân mấy năm. Nay anh H có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của anh H và chị Q mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức B – sinh ngày 21/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Phương D – sinh ngày 01/8/2016
Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và nguyện vọng của cháu thì Hội đồng xét xử thấy: anh H và chị Q đều chưa có nhà riêng; hai anh chị đều là lao động tự do nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Xong thời gian sống ly thân, các con đều ở với chị Q và ông bà ngoại; bản thân các cháu đều có nguyện vọng ở với bmẹ. Địa phương cũng có quan điểm: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Đồng thời anh H cũng đồng ý để chị Q nuôi các cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị Q nuôi cả hai con là phù hợp, đảm bảo cho các cháu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Q mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi các con thành niên điều này không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật nên cần được chấp nhận; anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Vấn đề khác: Anh Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị T đều xác nhận trong thời gian hai anh chị H, Q đi làm ở trong N thì các con của anh chị do ông V, bà T (ông bà ngoại của các cháu) chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng các đương sự không có yêu cầu đề nghị gì về công sức nuỗi dưỡng, chăm sóc các cháu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
-
Về con chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q có 02 con chung. Khi ly hôn, giao chị Q là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Đức B – sinh ngày 21/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Phương D – sinh ngày 01/8/2016; anh H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Q mỗi tháng 5.000.000đ (năm triệu đồng) kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con thành niên hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
-
Về tài sản, công nợ chung và các vấn đề khác: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Q đều không đề nghị Toà giải quyết.
-
Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí tiền cấp dưỡng nuôi con; được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012146 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP .. Buộc anh H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân & gia đình
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân & gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
