Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 11/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lữ Hà Minh

Ông Đỗ Xuân Nam

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Đạo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 18/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Quách Kim H, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay A P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Quách Thị L; chồng: ông Trang Minh D (ly hôn), sống như vợ chồng với ông Trần Quốc D1 (có 01 con sinh năm 1997); tiền sự: không; tiền án: không. Bị bắt phạm tội quả tang ngày 21/02/2023; tạm giữ ngày 22/02/2023; thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 28/02/2023 (bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
  2. Võ Văn B, sinh năm: 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 3 A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: 3 B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H1 (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); vợ: Lê Thị Huyền T1 (có 01 con sinh năm 2020); tiền sự: không; tiền án: không. Nhân thân: Bản án số 102/2006/HSST ngày 13/9/2006 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án 13/9/2006; Bị bắt phạm tội quả tang ngày 21/02/2023; tạm giữ ngày 22/02/2023; thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 28/02/2023.

Hiện bị cáo Võ Văn B bị tạm giam tại Trại tạm giam C – Công an Thành phố H theo Lệnh tạm giam số 11067/LTG-CSHS - Đ6 ngày 27/12/2024, Biên bản bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/12/2024 của Công an Thành phố H.

(Bị cáo Võ Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đinh Nguyễn Trung N, sinh năm: 1992

Địa chỉ: 7 N, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Đức P, sinh năm: 1979

HKTT: Tổ A, khu V, phường N, Tp ., tỉnh Bình Định.

Nơi ở hiện tại: G H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 21/02/2023, các bị cáo Mai Quốc T2, Quách Kim H, Võ Văn B và Lê Văn T3 đang tham gia đổ cá ngựa ăn tiền tại quán Cà phê số G H, Phường B, quận P thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận P phối hợp Công an P3, quận P bắt quả tang. Hình thức thắng thua như sau:

Người chơi sử dụng bộ cá ngựa 16 con, mỗi người chơi chọn 04 con ngựa cùng màu rồi sử dụng 02 hột xúc xắc luân phiên đổ vào 01 cái bát bằng sứ, số điểm trên 02 hột xúc xắc tương ứng với số bước đi của con ngựa. Trong quá trình chơi, cứ đá 01 con thì ăn 20.000 đồng. Nếu đá mà cặp xúc xắc là cặp 01 hoặc cặp 06 thì ăn một con 40.000 đồng. Nếu người chơi có ngựa lên chuồng thì ăn của mỗi người chơi còn lại 40.000 đồng/người. Trường hợp thầu mạ (tức con ngựa đầu tiên lên chuồng) thì người chơi ăn 160.000 đồng/người. Nếu người chơi có ngựa sập hầm (ngựa vào ô số 1) thì người có ngựa sập hầm phải đưa cho 03 người chơi còn lại 40.000 đồng/người hoặc tiếp tục để ngựa tại ô số 1 cho đến khi ngựa lên chuồng thì không được tính tiền ăn. Khi người chơi có 04 con ngựa lên chuồng thì kết thúc ván mới.

Tại thời điểm kiểm tra, tại quán Cà phê số G H, Phường B, quận P còn có 02 sòng bạc khác cũng chơi đánh bạc được ăn thua bằng tiền gồm:

Sòng bài xì dách:

Có 09 người chơi gồm: Nguyễn Đặng Tuấn A, Lý Thành Đ, Lê Thanh L1, Nguyễn Sơn T4, Hoàng Phương Hồng T5, Đặng Anh V, Huỳnh Âu Gia H2, Ngô Đình Q, Châu Minh P1. Thu giữ tại chiếu bạc 850.000 đồng, thu trong người các đối tượng 28.252.000 đồng, các đối tượng khai số tiền dùng để đánh bạc là 3.858.000 đồng.

Sòng bài câu cá:

Có 03 người chơi gồm: Trần Quốc T6, Bùi Lê Bích N1, Tạ Thị Quý T7. Thu giữ tại chiếu bạc 60.000 đồng, thu trong người các đối tượng 2.875.000 đồng, các đối tượng khai số tiền dùng để đánh bạc là 800.000 đồng.

Quách Kim H khai nhận: Gia đình H thuê mặt bằng tại địa chỉ số G H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 để bán quán cà phê. Chủ quán là do con dâu Quách Kim H tên Nguyễn Hoàng Linh T8 làm chủ. T8 đang mang thai nên nhờ H đứng ra trông coi quán. T8 thuê Nguyễn Thị Đức P dọn dẹp, pha chế và thu ngân. Trước đây, H mua 01 bộ cá ngựa để trong quán để chơi. Ngày 21/02/2023, Võ Văn B, Mai Quốc T2 và Lê Văn T3 đến quán uống cà phê do H trông coi, tại đây H, B, T2 và T3 cùng rủ nhau chơi đổ cá ngựa ăn thua bằng tiền, H lấy bộ cờ cá ngựa đã mua sẵn ra để cùng chơi. H sử dụng số tiền 680.000 đồng dùng để đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang, H đang thua 120.000 đồng, số tiền còn lại là 560.000 đồng để trên chiếu bạc, đây là lần đầu tham gia đổ cá ngựa ăn thua bằng tiền. Tại sòng bài, không ai tổ chức, thu tiền xâu, 04 người tham gia đánh bạc đều thống nhất về hình thức ăn thua như nội dung trên.

Tại thời điểm công an phát hiện bắt quả tang, ngoài sòng bạc của Quách Kim H, còn 02 sòng bạc khác cũng đang chơi đánh bạc ăn tiền. H không biết việc 02 sòng bạc này chơi đánh bài ăn tiền và H không chuẩn bị công cụ, phương tiện, cũng như được hưởng lợi ích gì trong việc khách đến đánh bài ăn tiền tại quán và P cũng có mặt tại quán để làm việc như thường ngày, P không có liên quan gì trong việc khách đánh bạc ăn tiền tại quán. Phổ không được hưởng lợi và không thu thêm tiền gì khác. H là người quản lý quán, T8 không có mặt tại quán cà phê, nên không biết việc H đánh bạc ăn thua bằng tiền.

Các bị cáo Võ Văn B, Lê Văn T3 và Mai Quốc T2 đều khai nhận:

Ngày 21/02/2023, đến quán cà phê G H, Phường B, quận P để uống cà phê thì gặp Quách Kim H. Tại đậy, cả 04 người cùng rủ nhau chơi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đổ cá ngựa ăn tiền. Bộ cờ cá ngựa là của H (H khai là của đứa cháu họ mang đến quán cho trẻ em chơi), khi đến quán cà phê, T2 mang theo 1.700.000 đồng để trong túi quần bên phải phía trước, sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc nếu thua hết thì T2 nghỉ không chơi nữa, số tiền còn lại là 1.300.000 đồng sử dụng cho việc cá nhân. Khi bị Công an bắt, T2 thắng 1.200.000 đồng, để trên chiểu bạc trước mặt. T3 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị Công an bắt quả tang, T3 thắng bạc 420.000 đồng để trên chiếu bạc trước mặt. B mang theo 10.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt, B thua 1.910.000 đồng, số tiền trên chiếu bạc là 40.000 đồng, số tiền trong túi quần bên trái của B là 8.050.000. Tại sòng bài, không ai tổ chức, không ai thu tiền xâu, cả 04 người tham gia đánh bạc đều thống nhất về hình thức ăn thua như trên. Đây là lần đầu tiên B, T3 và T2 tham gia đổ cá ngựa ăn tiền thì bị bắt. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 12.080.000 đồng.

Nguyễn Hoàng L2 T8 khai nhận:

Quán Cà phê số G H, phường B, quận P do T8 thuê của bà Nguyễn Lê P2 theo hợp đồng thuê nhà giữa T8 với P2, mục đích thuê là bán cà phê, thời hạn từ ngày 01/01/2023 đến 31/12/2023 với giá 22.000.000đ/tháng. Vào thời điểm ngày 21/02/2023, T8 là chủ quán cà phê địa chỉ số G H, Phường B, quận P, nhưng do đang mang thai nên không thường xuyên đến quán, T8 nhờ mẹ chồng là Quách Kim H trông coi quán cho T8. Từ trước đến nay, T8 không cho phép ai tổ chức hay đánh bạc ăn tiền tại quán cà phê, khi T8 mang thai và nhờ H trông quán thì T8 không biết việc quán của T8 có đánh bạc, cũng như không biết ai là người tổ chức đánh bạc và tham gia đánh bạc ăn tiền.

Bà Nguyễn Lê P2 khai nhận:

Bà P2 có cho Nguyễn Hoàng Linh T8 thuê căn nhà địa chỉ số G H, Phường B, quận P giá 22.000.000đ/tháng từ ngày 01/01/2023 đến 31/12/2023, mục đích thuê là buôn bán Cà phê. Sau khi cho thuê mặt bằng, P2 sinh sống tại ấp P, P, Chợ G, Tiền Giang. Vì vậy, P2 không biết việc kinh doanh cà phê hay đánh bạc tại đây.

Bà Nguyễn Thị Đức P khai nhận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2023, Công an kiểm tra bắt quả tang có 03 sòng chơi đánh bạc ăn tiền. Do P chỉ lo phục vụ bàn nước theo công việc của mình, nên P không biết khách chơi ăn tiền bao nhiêu và chơi như thế nào. Phổ cũng không biết H có được nhận hoa hồng hay tiền xâu trong việc khách chơi đánh bạc ăn tiền tại quán. Phổ chỉ thấy khách đến kêu nước rồi tự chơi đánh bạc, không có ai đưa ra chủ trương chơi. Bản thân P không được H hay ai phân công nhiệm vụ gì trong việc khách chơi đánh bạc ăn tiền tại quán Cà phê G H, Phường B, quận P và cũng không được hưởng lợi ích gì trong việc này.

Trần Quốc T6, Tạ Thị Quý T7, Bùi Lê Bích N1 khai nhận:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 21/02/2023 T6, T7, N1 đang chơi đánh bài “Câu cá” ăn thua bằng tiền tại quán Cà phê địa chỉ số G H, Phường B, quận P thì bị Công an kiểm tra phát hiện đưa về trụ sở làm việc. Tổng số tiền T6, T7, N1 sử dụng để đánh bạc là 800.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng đánh bạc còn lại thu giữ của T6 là 330.000 đồng, N1 là 240.000 đồng, T7 là 230.000 đồng. Việc đánh bài trên là do T6, T7, Ngọc tự rủ nhau chơi, mục đích là để giải trí lấy tiền trả tiền nước, không có ai tổ chức hay thu tiền xâu. Bộ bài là do T6 mua ở tiệm T10 mang đến chơi.

Lê Thanh L1, Nguyễn Sơn T4, Châu Minh P1, Đặng Anh V, Nguyễn Đặng Tuấn A, Huỳnh Âu Gia H2, Hoàng Phương Hồng T5, Lý Thành Đ, Ngô Đình Q khai nhận:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 21/02/2023 L1, T4, P1, V, A, H2, T5, Đ và Q cùng tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Xì dách” tại quán cà phê địa chỉ số G H, Phường B, quận P thì bị Công an kiểm tra phát hiện đưa về trụ sở làm việc. Tổng số tiền L1, T4, P1, V, A, H2, T5, Đ và Q sử dụng để đánh bạc là 3.668.000 đồng, trong đó của L1 là 200.000 đồng, T4 là 130.000 đồng, P1 là 80.000 đồng, V là 679.000 đồng, A là 40.000 đồng, H2 là 1.849.000 đồng, T5 là 500.000 đồng, Đ là 150.000 đồng, Q là 40.000 đồng. Việc đánh bạc trên là do L1, T4, P1, V, A, H2, T5, Đ và Q cùng rủ nhau chơi, mục đích là để giải trí lấy tiền trả tiền nước, không có ai tổ chức hay thu tiền xâu. Bộ bài là do H2 tự mang đến chơi.

Vật chứng của vụ án:

Thu của Quách Kim H:

  • Số tiền 560.000 đồng là số tiền sử dụng để đánh bạc; 1.900.000 đồng là tiền cá nhân, không sử dụng để đánh bạc;
  • 16 con cá ngựa bằng nhựa; 02 (hai) hột xúc xắc; 01 (một) cái bát sứ; 01 (một) bàn nhựa chơi cá ngựa; 01 (một) bàn gỗ; 04 (bốn) ghế gỗ là đồ vật sử dụng để đánh bạc.
  • 01 điện thoại di động hiệu S1;
  • 01 điện thoại di động hiệu S2 Filip3 là điện thoại của H sử dụng để liên lạc cá nhân, không sử dụng để đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Quách Kim H.

- Võ Văn B:

Số tiền 8.090.000 đồng là tiền Võ Văn B sử dụng để đánh bạc.

01 xe gắn máy hiệu Honda SH 150i, biển số: 59P1-388.09 do Võ Văn B đứng tên đăng ký, là tài sản cá nhân của bị can B, không sử sụng để đánh bạc, qua giám định số khung số máy không thay đổi, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe cho bị cáo Võ Văn B.

- Mai Quốc T2:

Số tiền 2.900.000 đồng gồm: 1.600.000 đồng là tiền T2 sử dụng để đánh bạc; Số tiền 1.300.000 đồng là tiền cá nhân, không sử dụng để đánh bạc

01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 là điện thoại cá nhân của T2, không sử dụng để đánh bạc.

- Lê Văn T3:

Số tiền 1.420.000 đồng sử dụng để đánh bạc, 01 xe Wave màu đen, biển số: 59G1-509.89, số khung: RLHJC5234CY480081; Số máy: JC52E5168623, kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi, xe máy trên do Đinh Nguyễn Trung N đứng tên đăng ký (con rể của T3), N giao xe cho T3 sử dụng để làm phương tiện đi lại cá nhân, T3 sử dụng xe làm phương tiện đi đánh bạc N không biết. 01 điện thoại hiệu Vivo, màu đen là điện thoại cá nhân của T3.

Tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 2.220.000 đồng. Tổng số tiền H, B, T3 và T2 sử dụng để đánh bạc là 12.080.000 đồng.

Ngày 28/02/2024, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử Quách Kim H, Võ Văn B, Lê Văn T3 và Mai Quốc T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bản án số 20/2024/HS-ST. Ngày 28/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án sơ thẩm số 12/QĐ-VKS, xét xử lại đối với Quách Kim H và Võ Văn B,

Ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, bản án số 152/2024/HS-PT xác định bị cáo Quách Kim H có hành vi “Sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên”.

Do đó, ngoài hành vi “Đánh bạc” đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bị cáo H còn có dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần phải tiếp tục điều tra làm rõ, tuyên hủy một phần bản án sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận để điều tra lại.

Tòa án cấp sơ thẩm xem xét cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo Quách Kim H và bị cáo Võ Văn B phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để phân hóa, quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo.

Quá trình điều tra lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P đã tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả xác định tại vị trí bị cáo Quách Kim H cùng đồng phạm ngồi đánh bạc trên lề đường còn 02 sòng bài còn lại ở bên trong quán, cách nhau 01 bức tường, vị trí của bị cáo Quách Kim H không nhìn thấy 02 sòng bài bên trong nhà.

Quá trình điều tra, bị cáo Quách Kim H và bị cáo Võ Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 87/CTr-VKS.PN ngày 07/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố các bị cáo như sau: Bị cáo Quách Kim H, Võ Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quách Kim H mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn B 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo tham gia đánh bạc đều thua vì vậy không có cơ sở truy thu số tiền thu lợi bất chính.

Lời nói sau cùng của bị cáo Quách Kim H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách phù hợp, để bị cáo có cơ hội và trở thành người có ích cho xã hội, cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Đối với bị cáo Võ Văn B, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị cáo. Do hiện nay bị cáo đang bị tạm giam (theo Lệnh tạm giam số 11067/LTG-CHHS-Đ6 ngày 27/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H) tại Trại tạm giam C – Công an Thành phố H nên bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo (có xác nhận của Ban giám thị Trại tạm giam Chí Hòa) nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Võ Văn B là phù hợp điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Nhận thấy, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản xác định địa điểm... Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 21/02/2023 các bị cáo H, bị cáo T2, bị cáo B và bị cáo T3 đã cùng nhau tham gia đổ cá ngựa, thắng thua bằng tiền tại phía trước hành lang của quán Cà phê ở địa chỉ số G H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền đánh bạc của các bị cáo được xác định thu giữ trên bàn ở vị trí các bị cáo đang ngồi chơi là 2.220.000 đồng (trong đó H là 560.000 đồng, T3 42.000 đồng, B 40.000 và T2 1.200.000 đồng). T9 trong người các bị cáo có lời khai ban đầu dùng để đánh bạc là 9.450.000 đồng (T2 400.000 đồng, T3 1.000.000 đồng và B 8.050.000 đồng).

Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố bị cáo Quách Kim H, bị cáo Võ Văn B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Mai Quốc T2 và bị cáo Lê Văn T3 đã được xét xử theo Bản án số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận (đã có hiệu lực pháp luật). Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Hoàng Linh T8 (người đứng tên thuê quán), bà Nguyễn Lê P2 (chủ nhà thuê) không biết việc bị cáo Quách Kim H cùng đồng phạm và 02 sòng bài tại quán tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Đức P được Nguyễn Hoàng Linh T8 thuê dọn dẹp, pha chế và thu ngân tại quán. Phổ không biết khách chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền bao nhiêu và chơi như thế nào, không hưởng lợi gì. Vì vậy, không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Quốc T6, Tạ Thị Quý T7, Bùi Lê Bích N1, Lê Thanh L1, Nguyễn Sơn T4, Châu Minh P1, Đặng Anh V, Nguyễn Đặng Tuấn A, Huỳnh Âu Gia H2, Hoàng Phương Hồng T5, Lý Thành Đ, Ngô Đình Q, tổng số tiền chơi đánh bạc không đủ định lượng 5.000.000 đồng. Kết quả xác minh không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Đã bị Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Hành vi của các bị can là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, do vậy phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tương xứng đối với từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Quách Kim H, Võ Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Đối với bị cáo Quách Kim H: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng thuộc trường hợp được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, thực sự có khả năng tự lao động và hoàn lương ngay trong môi trường xã hội, không cần thiết phải tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đạt được mục đích giáo dục, cải tạo, không gây ảnh hưởng xấu trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Do vậy, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tương ứng đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với bị cáo B: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại buổi làm việc tại trại giam, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Ngoài tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 như đã nêu trên. Bị cáo Võ Văn B còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo hiện nay đang bị bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng (bị viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim, đang đặt 04 stent mạch vành), là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương tính đến thời điểm trước khi bị bắt ngày 23/12/2024. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoàn toàn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trước đây bị cáo Võ Văn B từng có 01 tiền án từ 2006 đã được xóa án. So với các bị cáo khác, đáng lẽ ra bị cáo B phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, do bị cáo hiện nay đang bị bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng (bị viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim, đang đặt 04 stent mạch vành), là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình chờ xét xử thì bị cáo Võ Văn B bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H (PC02) ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 1096/QĐCSHS-Đ6 ngày 27/12/2024, Quyết định Khởi tố bị can số 1611 ngày 27/12/2024, về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”. Vụ án đang được Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H thụ lý ở giai đoạn điều tra vụ án.

Nhân thân của bị cáo Võ Văn B. Bên cạnh những tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo Võ Văn B là người từng bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 (Hai) 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bản án hình sự sơ thẩm số 102/2006/HSST ngày 13/9/2006 tuy được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân và tìm công ăn việc làm ổn định để nuôi sống bản thân, bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng (bị viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim, đang đặt 04 stent mạch vành), là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định để trở thành người có ích cho xã hội, ngược lại bị cáo tiếp thực hiện các hành vi phạm tội đều đó cho thấy thái độ thách thức, xem thường pháp luật của bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cân nhắc khi lượng hình nhằm có bản án công tâm, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhưng cũng thể hiện được sự khoan hồng của Nhà nước nhằm giúp bị cáo nhận thức, sửa đổi, tu chí chấp hành hình phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng.

[5]. Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính:

[5.1]. Về xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[5.2]. Về thu lợi bất chính: Các bị cáo đều khai mới chơi lần đầu thì bị bắt quả tang và số tiền ăn thua còn đang để trên sòng bài, đã bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Như vậy, các bị cáo chưa hưởng lợi nên không buộc các bị cáo nộp lại khoản thu lợi bất chính.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Quách Kim H, Võ Văn B.

[7]. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội không có vai trò đồng phạm, không có tổ chức, không chuẩn bị mua sắm dụng cụ gì phục vụ cho việc chơi bài ăn tiền, không có người khởi xướng, không ai thu tiền xâu, bộ cờ cá ngựa là sẵn có ở quán cà phê, trước đó bị cáo Quách Kim H hay lấy sử dụng để chơi giải trí cùng cháu.

[8]. Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

[8.1]. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong quá trình chờ xét xử thì bị cáo Võ Văn B bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H (PC02) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 1096/QĐCSHS - Đ6 ngày 27/12/2024, Quyết định khởi tố bị can số 1611 ngày 27/12/2024, về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 11067/LTG-CHHS - Đ6 ngày 27/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H tại Trại tạm giam C – Công an Thành phố H. Vụ án đang được Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H thụ lý ở giai đoạn điều tra vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử không ban hành Quyết định tạm giam 45 (Bốn mươi lăm) sau khi xét xử sơ thẩm.

[8.2]. Ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để yêu cầu làm rõ có hay không hành vi của bị cáo Quách Kim H phạm tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự “Sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên”. Sau khi Viện kiểm sát đã bổ sung một số tài liệu chứng cứ thì Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Quách Kim H và chuyển hồ sơ qua cho Tòa án. Căn cứ vào Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử, do vậy ngày 20/02/2025 Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận thụ lý lại vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[8.3]. Về nguyên tắc xử lý quy định tại khoản 1 Điều 3 của Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử nhận thấy, theo bản án hình sự thẩm tuyên phạt bị cáo Lê Văn T3 01 năm 07 ngày tù, bị cáo Mai Quốc T2 01 năm 07 ngày tù bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với bị cáo Quách Kim H, Võ Văn B khi lượng hình Hội đồng xét cân nhắc các tình tiết tăng nặng (không có) các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để tuyên bản án đúng người, đúng tội nhưng cũng đầy tính nhân đạo, nhân văn thể hiện được sự khoan hồng của nhà nước nhưng cũng có tính răn đe, phòng ngừa chung.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Quách Kim H, bị cáo Võ Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Quách Kim H, bị cáo Võ Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Quách Kim H.

Xử phạt: Bị cáo Quách Kim H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/4/2025.

Giao bị cáo Quách Kim H cho Ủy ban nhân dân Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực người được hưởng án treo hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Văn B.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

Bị cáo Quách Kim H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo Võ Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo Quách Kim H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị cáo Võ Văn B và người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

(Đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Phú Nhuận;
  • - CC THA Dân sự Q. Phú Nhuận;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - PV 06 – CATp Hồ Chí Minh;
  • Trại tạm giam Chí Hòa,
  • CA Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo Võ Văn Bông;
  • - Bị cáo Quách Kim Hà;
  • Ủy ban nhân dân Phường 7, Q.PN;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • Thi hành án hình sự (TANDQPN);
  • Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cao Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (về tội "đánh bạc")

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội "Đánh bạc")
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Phụng phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger