Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 03/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm.

Ông Lê Đăng Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025;

Đối với các bị cáo:

  1. Lê Công M, sinh ngày 06/7/1987 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Công B và bà Lê Thị M1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Lê Hồng L, có 03 con: Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Lê Xuân Ngọc A, sinh ngày 19/02/1993 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân N và bà Lê Thị T; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Võ Thị T1, có 02 con: Con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không;

    Tiền án: Ngày 19/8/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong khoản án phí hình sự và sung công. Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/3/2023

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến nay; có mặt.

  3. Lê Thiêm C, sinh ngày 18/10/1990 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thiêm L1 và bà Lê Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Đỗ Thị T2, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt
  4. Lê Sỹ C1, sinh ngày 20/3/1981 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ L2 và bà Trần Thị A1; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Hà Thị L3, có 02 con: Con lớn sinh năm 2023, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt
  5. Nguyễn Văn T3, sinh ngày 10/11/1988 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị T5; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Mai Thị H1, có 03 con: Con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Lê Công D, sinh ngày 12/01/1990 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công B và bà Lê Thị M1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T6, có 02 con: Con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Lê Xuân H2, sinh ngày 15/7/1979 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng C2 và bà Lê Thị T7; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Chu Thị T8, có 02 con: Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  8. Hà Văn T9, sinh ngày 19/10/1985 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Hà Thị T10; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị N1, có 03 con: Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  9. Lê Văn T11, sinh ngày 13/3/1977 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T12 và bà Trần Thị H3; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Trần Thị T13, có 01 con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  10. Lê Thanh T14, sinh ngày 01/5/1991 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh D1 và bà Lê Thị B1; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  11. Lê Huy Q, sinh ngày 03/10/1999 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Huy C3 và bà Lê Thị H4; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  12. Lê Văn A2, sinh ngày 20/4/2001 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H5 và bà Lê Thị V; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  13. Phạm Xuân N2, sinh ngày 12/5/1990 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân V1 và bà Lê Thị L4; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T15, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  14. Lê Công S, sinh ngày 20/01/1998 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công N3 và bà Lê Thị T16; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  15. Lê Đức A3, sinh ngày 20/10/1989 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T17 và bà Lê Thị N4; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Lê Thị Q1, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  16. Đỗ Viết T18, sinh ngày 12/8/1975 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết H6 và bà Lê Thị P; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Nguyễn Thị L5, có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Công D2, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 03/02/2025 Lê Công M, sinh năm 1987 đang ở nhà tại thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thì có Nguyễn Văn T3, sinh năm 1988; Lê Sỹ C1, sinh năm 1981; Lê Văn T11, sinh năm 1977; Lê Thanh T14, sinh năm 1991 cùng trú thôn C, xã X, huyện T; Lê Huy Q, sinh năm 1999 trú thôn B, xã X và Lê Văn A2, sinh năm 2001 trú thôn A, xã X đến nhà M chơi ngồi uống nước nói chuyện. Một lúc sau Nguyễn Văn T3 nói với M để mọi người chơi bài tại nhà M và sẽ cắt tiền hồ cho M thì M đồng ý. Sau đó M đi lấy chiếu nhựa chải ra nền nhà phòng khách, nằm ở phía bên trái theo hướng từ trong nhà ra ngoài và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 cây để xuống chiếu. Lúc này T3, Sỹ C1, T11, T14, Q và Văn A2 ngồi xuống chiếu để bắt đầu đánh bài ăn tiền. Đánh được một lúc thì Lê Công D, sinh năm 1990 trú thôn D, xã X, huyện T đến nhà M chơi, thấy mọi người đang đánh bạc nên tham gia chơi luôn. Tổng số người đánh bạc tại chiếu 2 là 07 người.

Tiếp đó có thêm Lê Xuân H2, sinh năm 1979; Hà Văn T9, sinh năm 1985; Đỗ Viết T18, sinh năm 1975 cùng trú thôn C, xã X; Phạm Xuân N2, sinh năm 1990; Lê Thiêm C, sinh năm 1990; Lê Đức A3, sinh năm 1989; Lê Xuân Ngọc A, sinh năm 1993 cùng trú thôn B, xã X; Lê Công S, sinh năm 1998 trú thôn A, xã X đến nhà Mão chơi và rủ nhau đánh bài ăn tiền thì các bị can trên và M đồng ý; Mão chải thêm 01 chiếu nữa ra nền nhà phòng khách, nằm phía bên phải theo hướng từ trong nhà ra ngoài và lấy thêm 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây để xuống chiếu. Sau đó H2, T9, T18, N2, Thiêm C, Đức A3, Ngọc A và S ngồi xuống chiếu đánh bạc. Tổng số người tham gia đánh bạc tại chiếu 2 là 08 người.

Các đối tượng tham gia đều đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh liêng ba cây, tức là dùng bộ bài tú lơ khơ 52 cây chia cho mỗi người chơi 03 cây và tính điểm theo thứ tự: thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 9 điểm; tiếp theo là liêng (ba cây liền kề nhau tính từ cây J đến cây K); cao nhất là sáp (ba cây giống nhau khác chất). Cả hai chiếu bạc đều đánh mỗi ván đặt cược thấp nhất 50.000 đồng, cao nhất 500.000 đồng; ván chào (ván có hai người cao điểm nhất bằng nhau) tố cược cao nhất là 1.000.000 đồng. Người thắng được lấy tiền của tất cả các con bạc còn lại tại chiếu bạc. Mỗi chiếu thống nhất cứ mỗi ván chào người thắng cắt ra 50.000 đồng để cuối buổi cho Lê Công M trả công phục vụ chè nước. Khi cả hai chiếu bạc đang sát phạt nhau thì có Lê Công D2, sinh năm 1993 trú thôn B, xã X, huyện T (D là em trai Mão) đến nhà M chơi có vào chiếu bạc ngồi xem cùng với M nhưng D2 và M không tham gia đánh bạc.

Đối với Đỗ Viết T18 và Lê Đức A3 quá trình đánh bài ăn tiền thua hết tiền trước nên ngồi xem mọi người đánh bạc.

Quá trình đánh bạc Mão và các bị can không phân công, canh gác bảo vệ không có việc cầm cố tài sản vay mượn tiền. Trong quá trình đánh bạc 2 chiếu bạc đánh độc lập nhau, không có con bạc nào chuyển sang chiếu khác đánh bạc, mà các con bạc đánh bạc từ khi vào chiếu bạc cho đến khi bị bắt.

Số tiền tham gia đánh bạc các bị can khai nhận:

Lê Xuân H2 sử dụng khoảng 3.000.000 đồng để đánh bạc, H2 để toàn bộ số tiền đánh bạc dưới chiếu, khi bị bắt trên người H2 không còn tiền; Phạm Xuân N2 sử dụng khoảng 800.000 đồng để đánh bạc, N2 để toàn bộ số tiền đánh bạc dưới chiếu, khi bị bắt trên người N2 không còn tiền; Lê Thiêm C sử dụng khoảng 13.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc C đang thua, khi bị bắt trên người còn 9.500.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc; Lê Đức A3 sử dụng khoảng 1.600.000 đồng để đánh bạc, sau đó thua hết tiền ngồi xem, khi công an bắt quả tang trên người Đức A3 không còn tiền; Hà Văn T9 sử dụng khoảng 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang hòa, khi bị công an bắt thu giữ trên người 3.000.000₫ là tiền sử dụng đánh bạc; Đỗ Viết T18 sử dụng khoảng 450.000 đồng để đánh bạc, sau đó thua hết tiền ngồi xem, khi bị bắt quả tang trên người T18 không còn tiền; Lê Công S sử dụng khoảng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thua, khi bị bắt tiền tham gia đánh bạc S để dưới chiếu bạc; Lê Xuân Ngọc A sử dụng khoảng khoảng 1.100.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thua, khi bị bắt trên người Ngọc A còn 750.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; Nguyễn Văn T3 sử dụng khoảng khoảng 9.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thắng, bị bắt công an thu giữ từ trên người T3 11.250.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; Lê Văn T11 sử dụng khoảng 2.600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thắng, khi bị công an bắt thu giữ trên người Thường 2.900.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; Lê Huy Q sử dụng khoảng 2.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thua, công an bắt thu giữ trên người Q 250.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; Lê Sỹ C1 sử dụng khoảng 10.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thắng, công an bắt thu giữ trên người C1 10.950.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc; Lê Văn A2 sử dụng khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang thua, công an bắt thu giữ trên người Văn A2 250.000 đồng để đánh bạc; Lê Thanh T14 sử dụng khoảng 2.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đang hòa, công an bắt thu giữ trên người T14 2.500.000 đồng để đánh bạc; Lê Công D sử dụng khoảng 3.350.000 đồng, quá trình đánh bạc đang thua, công an bắt thu giữ trên người Dần 3.000.000 đồng để đánh bạc.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định số 176/QĐ-ĐTTH ngày 10/02/2025, yêu cầu giám định: Xác định các tờ tiền được niêm phong trong 05 phong bì màu trắng mặt trước có in chữ “CÔNG AN TỈNH THANH HÓA CÔNG AN HUYỆN THỌ XUÂN”; mặt sau được dán kín và niêm phong bởi các hình dấu tròn màu đỏ nội dung “CÔNG AN XÃ XUÂN SINH*CÔNG AN HUYỆN THỌ XUÂN – T.THANH HÓA”, các phong bì lần lượt được ký hiệu là: A, B, C, D, E gửi giám định là thật hay giả.

Tại bản kết luận giám định số 846/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu cần giám định là tiền thật.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ:

  • 02 chiếu nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng.
  • 02 bộ bài tú lơ khơ có 52 cây đã qua sử dụng.
  • Số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người đối tượng tham gia đánh bạc 57.700.000 đồng.

Đây là đồ vật, tài sản dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục quản lý để xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSTX ngày 28/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Lê Xuân Ngọc A, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Công M về tội “Gá bạc”, quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân Ngọc A, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 phạm tội “đánh bạc”, bị cáo Lê Công M phạm tội “gá bạc”.

Về hình phạt đề nghị:

  • Áp dụng: Các điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Công M.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Xuân Ngọc A.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3. Riêng các bị cáo Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14. Riêng các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18. Riêng các bị cáo Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Lê Công M từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

+ Xử phạt bị cáo Lê Xuân Ngọc A từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2025.

+ Xử phạt các bị cáo Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, mỗi bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

+ Xử phạt các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Thanh T14, Lê Huy Q, mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian tạm giữ được quy đổi và trừ vào thời gian chấp hành án cho các bị cáo.

+ Xử phạt các bị cáo Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đ đến 25.000.000 đ sung quỹ Nhà nước.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo bị hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu tiêu huỷ: 02 chiếu nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng, 02 bộ bài tú lơ khơ có 52 cây đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 57.700.000 đồng.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Lê Công M đồng ý cho các bị cáo mượn địa điểm là nhà ở của mình, chuẩn bị chiếu, bài, phục vụ chè nước để cho 15 người đánh bạc với 02 chiếu bạc, tổng số tiền trong cùng một lần đánh là 57.700.000 đồng. thống nhất theo mỗi ván “chào” người thắng cắt cho M 50.000 đồng, sau khi kết thúc cuộc chơi sẽ đưa số tiền này cho M.

Vào tối 03/02/2025 tại nhà Lê Công M trú tại thôn B, xã X, huyện T. Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Đỗ Viết T18, Phạm Xuân N2, Lê Thiêm C, Lê Đức A3, Lê Xuân Ngọc A, Lê Công S, Nguyễn Văn T3, Lê Sỹ C1, Lê Văn T11, Lê Thanh T14, Lê Huy Q, Lê Văn A2 Lê Công D đã rủ nhau và tham gia trực tiếp đánh bạc nhằm mục đích thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng” sử dụng bài tú lơ khơ 52 cây để thực hiện. Các bị cáo thực hiện đánh bạc riêng thành 02 chiếu, trong đó: 01 chiếu (tức chiếu 2) có 07 bị cáo gồm: Nguyễn Văn T3, Lê Sỹ C1, Lê Văn T11, Lê Thanh T14, Lê Huy Q, Lê Văn A2, Lê Công D. Tổng số tiền thu giữ dưới chiếu bạc này và thu giữ trên người các con bạc sử dụng để đánh bạc là 38.050.000 đồng; 01 chiếu (tức chiếu 1) có 08 bị cáo, gồm: Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Đỗ Viết T18, Phạm Xuân N2, Lê Thiêm C, Lê Đức A3, Lê Xuân Ngọc A, Lê Công S. Tổng số tiền thu giữ dưới chiếu bạc này và thu giữ trên người các con bạc sử dụng để đánh bạc là 19.500.000 đồng.

Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Công M đã đủ cấu thành tội “gá bạc”, theo quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Lê Xuân Ngọc A, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 đã đủ cấu thành tội “đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Đây là một tệ nạn xã hội có thể gây ra nhiều hệ lụy xấu và nghiêm trọng khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh để giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo đối với hành vi đánh bạc: Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, thống nhất thực hiện tội phạm từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ, chỉ là đồng phạm mang tính giản đơn nên không phải là tội phạm có tổ chức. Trong đó, đối với nhóm các bị cáo có hành vi đánh bạc thì các bị cáo Lê Sỹ C1 và Nguyễn Văn T3 là những người đánh bạc ngay từ đầu và với số tiền lớn hơn so với các bị cáo còn lại, bị cáo Lê Thiêm C tham gia sau nhưng với số tiền nhiều nhất. Do đó các bị cáo Sỹ C1, Thiêm C và T3 xếp vai trò cao nhất trong vụ án và phải chịu hình phạt cao nhất. Các bị cáo D, H2, T9, T11, T14, Q đánh bạc với số tiền ít hơn nên xếp vai trò thứ hai; Các bị cáo Văn A2, N2, S, Đức A3, Ngọc A, T18 đánh bạc với số tiền gần tương đương nhau và ít nhất nên xếp vai trò cuối cùng.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trừ bị cáo Ngọc A, các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Lê Đức A3, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Đỗ Viết T18 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định định tại i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Lê Công M và Lê Công D đều tham gia nghĩa vụ quân sự và có bà nội là Lê Thị C4 đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến. Cậu ruột của M và D là ông Lê Bá C5 là liệt sĩ hiện đang do gia đình M và D thờ cúng; Bị cáo Lê Đức A3 có bố đẻ là Lê Công T17 và mẹ đẻ là Lê Thị N4 được tặng bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Bị cáo Đỗ Viết T18 có bố đẻ là Đỗ Viết H6 có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, chú ruột là Đỗ Viết A4 là liệt sĩ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Bị cáo Hà Văn T9 có mẹ là Hà Thị T19 được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Bị cáo Lê Xuân H2 có bố đẻ là Lê Hồng C2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chú ruột Lê Xuân C6 và cậu ruột Lê Viết H7 đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; Bị cáo Lê Văn T11 đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Bố đẻ Lê Văn T12 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và mẹ đẻ Trần Thị H3 được tặng Bằng khen đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Bị cáo Lê Sỹ C1 có bố đẻ là Lê Sỹ L2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ đẻ là Trần Thị A1 được tặng bằng khen tham gia chống Mỹ cứu nước; Bị cáo Nguyễn Văn T3 có ông nội Nguyễn Văn L6 được tặng Huân chương kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Do đó các bị cáo Lê Công M, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Xuân Ngọc A đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Lê Công M, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo Lê Công M, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3 được hưởng án treo; căn cứ Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14 được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ; căn cứ Điều 35 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đơi với các bị cáo Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội. Riêng đối với bị cáo Lê Xuân Ngọc A phạm tội trong trường hợp tái phạm nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Theo quy định tại khoản 3 Điều 321; khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo đều là người lao động tự do, hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, người bị kết án cải tạo không giam giữ còn có thể bị khấu trừ một phần thu nhập. Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: 02 chiếu nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng, 02 bộ bài tú lơ khơ có 52 cây đã qua sử dụng. Đây xác định là các công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án hiện đang còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 57.700.000 đ, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với số tiền 5.750.000 đồng mà Lê Công D2 giao nộp. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Công D2 là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Công M.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Xuân Ngọc A.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3. Riêng các bị cáo Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14. Riêng các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18. Riêng các bị cáo Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Công M phạm tội “gá bạc”; Các bị cáo Lê Xuân Ngọc A, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 phạm tội “đánh bạc”.

+ Xử phạt bị cáo Lê Công M 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Lê Xuân Ngọc A 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2025.

+ Xử phạt bị cáo Lê Thiêm C 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Lê Sỹ C1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Công M, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3 cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Xử phạt bị cáo Lê Công D 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

+ Xử phạt bị cáo Lê Xuân H2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

+ Xử phạt bị cáo Hà Văn T9 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

+ Xử phạt bị cáo Lê Văn T11 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

+ Xử phạt bị cáo Lê Thanh T14 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

+ Xử phạt bị cáo Lê Huy Q 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 07/02/2025 là 03 (ba) ngày, quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14 cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Lê Văn A2 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N2 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Lê Công S 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Lê Đức A3 từ 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Viết T18 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo bị xử phạt hình phạt cải tạo không giam giữ.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếu nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng, 02 bộ bài tú lơ khơ có 52 cây đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng số 31 ngày 28/02/2025.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 57.700.000 đ (năm mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên hiện đang trong tài khoản tạm gửi số 3949.0.1053930.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân tại K huyện T.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Công M, Lê Xuân Ngọc A, Lê Thiêm C, Lê Sỹ C1, Nguyễn Văn T3, Lê Công D, Lê Xuân H2, Hà Văn T9, Lê Văn T11, Lê Huy Q, Lê Thanh T14, Lê Văn A2, Phạm Xuân N2, Lê Công S, Lê Đức A3, Đỗ Viết T18 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tội đánh bạc và gá bạc)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc và Gá bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: âf
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger