Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T1 Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T1 Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T1 Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Hoài P, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ 2, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ 2, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trương Hoài P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 04/11/2014 theo Trích lục kết hôn số 175/TLKH-BS ngày 12/6/2024.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và quan tâm đến nhau. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi và không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Bà P nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau khoảng 03 năm. Ngày 12/6/2024, bà P đã làm đơn yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh T nhưng bà P rút yêu cầu khởi kiện nên Tòa án ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 75/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/8/2024. Tuy nhiên, vợ chồng vẫn không thể đoàn tụ sống chung hạnh phúc và không ai còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Khi vợ chồng không sống chung với nhau bà P nuôi dưỡng con tên Lê Phương U, sinh ngày 08/5/2019 còn ông T nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoàng T1, sinh ngày 12/11/2015. Do đó, bà P yêu câu tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Phương U và giao ông T tiếp tục nuôi con chung tên Lê Hoàng T1.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P và ông T mỗi người nuôi một con chung nên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Thanh T trình bày ý kiến: Ông T thống nhất lời trình bày của bà P về quan hệ hôn nhân và về con chung. Ông T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng để ly hôn nhưng bà P cương quyết yêu cầu ly hôn và hiện nay vợ chồng cũng không còn sống chung với nhau nên ông T đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung. Bởi vì, bà P không có công việc làm và chỗ ở ổn định. Khi vợ chồng không sống chung với nhau, bà P về nhà mẹ ruột là bà Trần Thị Tám ở và mở quán bán nước giải khát. Tuy nhiên, bà Tám không đồng ý cho bà P tiếp tục ở nhờ nữa nên bà P không có chỗ ở ổn định. Ngoài ra, cháu Lê Phương U, sinh năm 2019 chuẩn bị vào lớp 1 nếu tiếp tục ở với bà P không có chỗ ở ổn định sẽ ảnh hưởng đến việc học của bé. Trong khi, ông T có chỗ ở và công việc làm ổn định đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng hai con chung. Ông T không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của cháu Lê Hoàng T1 muốn sống chung với ông Lê Thanh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.

Về nội dung: Bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà P yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Về con chung giao cho bà P nuôi dưỡng cháu Lê Phương U và giao cho ông Lê Thanh T nuôi cháu Lê Hoàng T1; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Hoài P có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lê Thanh T nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Thanh T có địa chỉ tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 04/11/2014 theo Trích lục kết hôn số 175/TLKH-BS ngày 12/6/2024 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà P yêu cầu ly hôn với ông T do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và vợ chồng hiện nay không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và ông T đồng ý ly hôn nên ghi nhận thuận tình ly hôn của đương sự.

[3] Về con chung: Bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Phương U, sinh ngày 08/5/2019 và giao con chung tên Lê Hoàng T1, sinh ngày 12/11/2015 cho ông T nuôi dưỡng. Xét thấy, bà P hiện đang nuôi dưỡng cháu Lê Phương U và cháu con nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Hiện tại cháu Lê Hoàng T1 đang do ông T nuôi dưỡng và cháu T1 có nguyện vọng sống chung với ông T. Do đó, yêu cầu của bà P là phù hợp có căn cứ chấp nhận. Ông T cho rằng bà P không đủ điều kiện nuôi con nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P và ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

  1. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T thuận tình ly hôn.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Hoài P về việc “Tranh chấp về nuôi con” với ông Lê Thanh T như sau:
    • Giao con chung tên Lê Phương U, sinh ngày 08/5/2019 cho bà Trương Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng.
    • Giao con chung tên Lê Hoàng T1, sinh ngày 12/11/2015 cho ông Lê Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Bà Trương Hoài P và ông Lê Thanh T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

  3. Về án phí: Bà Trương Hoài P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004846 ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố T;
  • - Chi cục THADS thành phố T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Hồng Thêm

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P và ông T tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger