Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng

ông Nguyễn Văn Sự

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn N; tên gọi khác: không; sinh ngày 13/3/1987, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Hoàng Thị A; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt.

2. Bùi Văn C; tên gọi khác: không; sinh ngày 03/3/1982, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: số E đường H, khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Hoàng Thị H; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị A; nơi cư trú: khu H, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

- Người chứng kiến: ông Nguyễn Văn L - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn N làm nghề lái xe taxi tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, trong quá trình chở khách Nghiệp thấy một số người khách du lịch Trung Quốc hỏi mua vảy Tê Tê, nên đến khoảng tháng 6/2024, trong khi chở khách đi huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, N đã tìm và mua của một người đàn ông tên là T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 20 kg vảy Tê tê, với giá 30.000.000 đồng, rồi đem về nhà cất giấu trong tủ ở gầm cầu thang tầng 1 và tìm người mua để bán kiếm lời.

Đến khoảng giữa tháng 09/2024, N nhận được điện thoại của một người đàn ông tên “A S” (không rõ lai lịch, địa chỉ) có số 0346.768.622 đặt vấn đề mua vảy Tê tê, N đồng ý bán 20 kg vảy Tê tê, với giá 2.000.000 đồng/kg và hẹn gặp nhau tại thành phố M. Tiếp đến, khoảng 15 giờ ngày 23/9/2024, “A Sám” gọi điện thoại cho N và thông báo sẽ cho một người sử dụng điện thoại của “A Sám”, để liên hệ nhận hàng vảy Tê tê và thanh toán tiền, N đồng ý. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, N gọi điện thoại cho “A S”, thì có một người đàn ông nói tiếng Việt Nam và giới thiệu là người nhận hàng vảy Tê tê cho “A S”. Nghiệp liền cho người đàn ông số điện thoại của Bùi Văn C và hẹn đến số nhà E, đường H, thuộc khu G, phường H, thành phố M là nhà của C để nhận hàng vảy Tê tê, người đàn ông đồng ý. Sau đó, N lấy số vảy Tê tê ra, chia đều vào trong 02 bao tải dứa và cho vào trong 01 chiếc thùng xốp, rồi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 chở thùng xốp chứa vảy Tê tê đến nhà của C. Khi đến nơi, N gọi điện thoại cho C và nói là đã để thùng xốp chứa vảy Tê tê trong sân nhà của C, đồng thời bảo C khi có người liên hệ nhận hàng vảy Tê tê, thì C giao hàng hộ và nhận số tiền 11.000 CNY (Mười một nghìn Nhân dân tệ Trung Quốc) cho N, C đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, trong khi C đang ở nhà, thì nhận được điện thoại của một người đàn ông có số 0346.768.622 và nói là người đến nhận hàng vảy Tê tê, C đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/9/2024, có một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) điều khiển 01 xe ô tô bán tải, màu ghi bạc (không rõ biển số) đến đỗ trước cửa nhà của C, rồi bảo C giao hàng vảy Tê tê và đưa cho C số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc). Lúc này, C gọi điện thoại cho N để thông báo, nhưng N không nghe máy, nên C đã nhận tiền, rồi quay vào trong sân nhà bê thùng xốp bên trong có 02 bao tải dứa chứa vảy Tê tê ra. Trong khi C đang bê thùng xốp chứa vảy Tê tê ra xe ô tô để giao cho người đàn ông thì bị Công an thành phố Móng Cái kiểm tra, do sợ bị bắt người đàn ông đã điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Còn C được đưa về trụ sở Công an thành phố Móng Cái làm việc. Quá trình kiểm tra, thu giữ 01 thùng xốp, kích thước (62x45x40)cm, bên trong có 01 bao tải dứa màu trắng và 01 bao tải dứa màu xanh, trong mỗi bao đều chứa 10 kg vảy động vật màu vàng nâu, kích thước không đồng nhất. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax, gắn sim số 0986.623.999 và số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc).

3

Quốc). Cùng ngày, Bùi Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M trình diện và khai nhận về hành vi của mình, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, gắn sim số 0812.333.207, 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 284347 mang tên Phạm Thị T2, do Công an thành phố H cấp ngày 13/3/2019.

Tại Bản kết luận giám định động vật số 1748/STTNSV ngày 14/10/2024, của V, kết luận: Toàn bộ mẫu vảy động vật gửi giám định là vảy loài Tê tê. Kết quả phân tích ADN của 04 mẫu vảy lấy ngẫu nhiên là vảy loài Tê tê java có tên khoa học Manis javanica. Loài Tê tê java có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019, của Chính phủ; có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021, của Chính phủ và có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023, của Cơ quan quản lý C2. Cơ quan giám định không đủ cơ sở khoa học để xác định toàn bộ số vảy Tê tê, gửi giám định là của bao nhiêu cá thể.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Bùi Văn N và Bùi Văn C, đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về xử lý vật chứng: đối với 20 kg vảy Tê tê java hoàn lại sau giám định; 01 thùng xốp màu trắng, kích thước (62x45x40)cm; 02 bao tải dứa; 02 điện thoại di động; 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 284347 mang tên Phạm Thị T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định. Số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc), Cơ quan điều tra đã gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố M.

Bản Cáo trạng số: 555/CT-VKSMC ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Bùi Văn N và bị cáo Bùi Văn C, về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Người chứng kiến ông Nguyễn Văn L, có lời khai, thể hiện: khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/9/2024, trong khi ông L đang có mặt tại số E đường H, thành phố M, thì được lực lượng Công an mời chứng kiến việc kiểm tra một người thanh niên (sau này biết tên là Bùi Văn C), thu giữ 01 thùng xốp, bên trong có 01 bao tải dứa màu trắng và 01 bao tải dứa màu xanh, trong mỗi bao đều chứa 10 kg vảy động vật màu vàng nâu, kích thước không đồng nhất. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax, gắn sim số 0986.623.999 và số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc). Chuyền khai nhận số vảy Tê tê là của Bùi Văn N nhờ chuyển cho khách mua.

4

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị A (vợ của Bùi Văn N) có lời khai, thể hiện: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 là do chị A mua lại của chị Phạm Thị T2, có làm hợp đồng mua bán với nhau. Thông thường chị A là người thường xuyên sử dụng xe để đưa đón con đi học, thi thoảng chồng chị có lấy xe để chở khách. Chị A không biết việc N sử dụng xe vào việc phạm tội. Chị A đề nghị được nhận lại chiếc xe trên. Tại Đơn xin phương tiện ngày 04/3/2025 và tại phiên toà, chị A có lời khai thể hiện: chị là người quản lý và sử dụng chiếc xe ô tô trên, chiếc xe này do chị mua lại của chị T2 từ năm 2019 và là người ký tên trong hợp đồng mua bán, nguồn tiền mua chiếc xe này là do bố mẹ đẻ chị tặng cho tiền riêng chị để mua xe làm phương tiện đưa đón con đi học, xe ô tô là tài sản riêng của chị nên chị đề nghị trả lại chiếc xe ô tô trên cho chị để làm phương tiện đi lại.

Ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị P trong đơn trình bày ngày 20/3/2025 được Ủy ban nhân dân xã H xác nhận có nội dung: ông bà là người tặng cho con gái là Hoàng Thị A số tiền 600.000.000 đồng để mua xe ô tô, thời gian khoảng cuối tháng 9 năm 2019, đây là tài sản riêng của con gái ông bà được ông bà tặng cho không phải là tài sản chung của vợ chồng Bùi Văn N và Hoàng Thị A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 244; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng, về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Giao bị cáo Bùi Văn N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng, về tội : “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Giao bị cáo Bùi Văn C cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5

- Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Đối với 20 kg vảy Tê tê java hoàn lại sau giám định Nhà nước cấm lưu hành, 01 thùng xốp màu trắng và 02 bao tải dứa không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với 02 điện thoại di động của các bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền số 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc) do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;

+ Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 và 01 giấy chứng nhận đăng ký là tài sản riêng của chị Hoàng Thị A (vợ bị cáo N), chị A không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, nên đề nghị trả lại cho chị A;

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà; lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; trên cơ sở Biên bản tuần tra kiểm soát ngày 23/9/2024; các biên bản làm việc; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản giám định tại chỗ mẫu động vật ngày 25/9/2024; các bản ảnh vật chứng; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh xác định hiện trường; Bản kết luận giám định động vật số 1748/STTNSV ngày 14/10/2024, của V và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/9/2024, tại số nhà E, đường H thuộc khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn N và Bùi Văn C có hành vi bán trái phép 20 kg (Hai mươi ki lô gam) vảy loài Tê tê java, thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, với giá 10.800

6

CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc) cho người đàn ông tên “A S” (không rõ lai lịch, địa chỉ), nhưng chưa kịp bán thì bị Công an thành phố M, kiểm tra phát hiện, bắt thu giữ vật chứng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội. Do đó, hành vi của các bị cáo Bùi Văn N, Bùi Văn C, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự, như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố đối với các bị cáo và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tại phiên toà là có căn cứ, được chấp nhận.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo Bùi Văn N, Bùi Văn C là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo Bùi Văn N, Bùi Văn C đều là người trưởng thành, có đủ sức khỏe, trình độ nhận thức về hành vi cũng như nhận biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với việc mua, bán trái phép bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Nhưng do ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo N kém, tham lam tư lợi, mong muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng mà không phải từ lao động chân chính. Khi biết buôn bán vảy Tê tê kiếm được nhiều tiền, bị cáo N đã mua 20 kg vảy Tê tê, với giá 30.000.000 đồng, rồi tìm người mua để bán, với giá 10.800 Nhân dân tệ, và đáng nhẽ khi bị cáo C được bị cáo N nhờ chuyển hàng vảy Tê tê cho người mua và nhận tiền, bị cáo C phải khuyên can không mua bán loại hàng này. Nhưng bị cáo C vẫn đồng ý chuyển hàng là vảy Tê tê cho người mua và nhận tiền cho bị cáo N, nhưng các bị cáo chưa kịp bán thì bị Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, không những làm mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến công tác bảo vệ các loài động vật thuộc Danh mục nguy cấp, quý, hiếm của Nhà nước khỏi bị tuyệt chủng mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán trái phép các bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của loài động vật này. Do vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm các bị cáo, nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.

[4] Về vai trò, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Xét vai trò của các bị cáo thấy: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người trực tiếp bỏ tiền mua vảy Tê tê, là người trực tiếp bán vảy Tê tê cho khách nên giữ vai trò chính. Bị cáo C là người giúp bị cáo N giao vảy Tê tê và thu tiền từ việc bán vảy Tê tê cho khách nên giữ vai trò sau bị cáo N.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định

7

tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có gia đình hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính có xác nhận của chính quyền địa phương. Bố đẻ của các bị cáo là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4 thuộc đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo N đã tự nguyện đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M khai nhận hành vi phạm tội khi hành vi phạm tội chưa được phát hiện nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo N theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Do đó xét thấy không cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Đối với 20 kg vảy Tê tê java hoàn lại sau giám định Nhà nước cấm lưu hành, 01 thùng xốp màu trắng và 02 bao tải dứa không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 02 điện thoại di động gắn sim thu giữ của của các bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc) do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; phôi sim không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 284347 mang tên Phạm Thị T2 là tài sản riêng của chị Hoàng Thị A (vợ bị cáo N) được ông Hoàng Văn T3, bà Phạm Thị Phúc T4 cho tiền riêng chị A mua xe, để phục vụ cho việc đi lại của các cá nhân trong gia đình, chị A không biết bị cáo N sử dụng xe vào việc phạm tội, nên trả lại cho chị A;

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác:

- Người đàn ông tên là T1, theo Bùi Văn N khai là người đã bán vảy Tê tê cho N, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có

8

căn cứ để điều tra làm rõ;

- Người đàn ông tên “A S” có số điện thoại 0346.768.xxx, là người đặt mua và người đàn ông điều khiển xe ô tô bán tải, màu ghi bạc đến nhà của C để nhận hàng vảy Tê tê, Cơ quan điều tra đã đề nghị Công ty V1 cung cấp chủ sở hữu số thuê bao điện thoại, nhưng chưa có kết quả, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 21 (hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Giao bị cáo Bùi Văn N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Giao bị cáo Bùi Văn C cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T5 hoãn xuất cảnh đã áp dụng đối với bị cáo Bùi Văn N theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02/2025/HSST-LCCC ngày 14/02/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 02/QĐ-TA ngày 14/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú và T5 hoãn xuất cảnh đã áp dụng đối với bị cáo Bùi Văn C theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 03/2025/HSST-LCCC ngày 14/02/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 03/QĐ-TA ngày 14/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

9

2. Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao tải dứa màu trắng bên trong chứa nhiều vảy động vật màu vàng nâu, khối lượng 10kg; 01 (một) bao tải dứa màu xanh bên trong chứa nhiều vảy động vật màu vàng nâu, khối lượng 10kg; 01 (một) thùng xốp màu trắng và 02 (hai) phôi sim số 0986.623.999 và 0812333207.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax, màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu giữ của bị cáo Bùi Văn N; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10A, màu bạc, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu giữ của bị cáo Bùi Văn C; số tiền 10.800 CNY (Mười nghìn tám trăm Nhân dân tệ Trung Quốc) được niêm phong gửi Kho bạc Nhà nước Móng Cái theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 02/BBBQ-CSĐT ngày 12/02/2025 giữa Kho bạc Nhà nước M và Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố M.

- Trả lại chị Hoàng Thị A 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, màu đen, biển số 29A-247.66, xe cũ, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 284347 mang tên Phạm Thị T2.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 56/2025/THA, ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Bùi Văn N và Bùi Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

10

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng PC06 Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS tp Móng Cái;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Đức Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (criminal case)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Nghiệp CĐP- vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger