TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | |
Bản án số: [Corrupted OCR] | Ngày 25 tháng 3 năm 2025 |
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và bà Nguyễn Thị Vân
-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/HSST ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với:
Lê Đình T - sinh năm: 1987, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn B, xã Q, huyện C, TP Hà Nội; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Đình M và con bà Tạ Thị N, vợ: Nguyễn Thị Thu H; có 01 con: sinh năm: 2011; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, (đã xóa án tích). Bị can đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại:
- + Anh Nguyễn Kim C – sinh năm: 1974 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Ứ, TP .
- + Anh Nguyễn Mạnh T1 – sinh năm: 1975 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện M, TP .
- + Anh Nguyễn Trọng Q – sinh năm: 1995 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Ứ, TP .
- + Anh Dương Văn H1 – sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện M, TP .
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Tạ Thị N – sinh năm: 1964 (Có mặt)
- Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện C, TP .
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Kim Hoàng H2 – sinh năm: 2005 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Ứ, TP .
- + Chị Tống Thị N1 - Sinh năm 1990; (Vắng mặt)
- Trú tại: xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Lê Đình T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn giả danh cán bộ của cơ quan Công an để tạo lòng tin cho các bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng đầu tháng 8/2024, sau nhiều lần đi cùng xe buýt tuyến số 102, T làm quen với anh Nguyễn Kim C, là phụ xe buýt tuyến 102. Qua nói chuyện cùng anh C nên T biết gia đình anh C bị mất trộm một chiếc xe máy ở khu vực quận C, TP Hà Nội và đang có nhu cầu tìm lại thì T giới thiệu với anh C mình là cán bộ của Cục C1 - Bộ C2 nên có khả năng giúp anh C tìm lại chiếc xe máy bị mất. Do tin tưởng T nói thật nên anh C trao đổi số điện thoại với T. Ngày 10/8/2024, T gọi điện cho anh C nói “em đã nhờ anh em trong cơ quan tìm giúp được xe máy mà anh bị mất”, rồi bảo anh C chuyển khoản cho T số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản số 0968624254 tại Ngân hàng M1 của T để cảm ơn và hẹn 05 ngày sau lấy xe. Anh C đồng ý và chuyển khoản như T hướng dẫn. Khoảng 05 ngày sau, do không có xe máy giao cho anh C và muốn lừa thêm tiền nên T tiếp tục nói với anh C là cơ quan T đang có đợt thanh lý vật chứng giá rẻ gồm 01 xe máy SH 125i, 01 xe máy Dream thái, 01 laptop Acer và 01 điện thoại Samsung S24 Ultra tất cả chỉ bán với giá 15.000.000 đồng rồi hỏi anh C có nhu cầu mua thì để T làm thủ tục mua giúp, anh C đồng ý. Sau đó, T nhắn tin với Nguyễn Kim Hoàng H2 là con trai anh C để bảo H2 chuyển khoản tiền giúp anh C để mua số đồ trên thì Hiệp đồng Ý và chuyển khoản cho T số tiền 5.300.000 đồng. Hôm sau, anh C chuyển tiếp số tiền 15.000.000 đồng cho T. Ngày 05/9/2024, T yêu cầu anh C chuyển thêm số tiền 2.000.000 đồng là tiền phí đăng ký và bấm biển số xe SH 125i mua thanh lý, anh C cũng đã chuyển số tiền này cho T. Ngày 10/9/2024, T tiếp tục yêu cầu anh C chuyển số tiền 3.100.000 đồng là tiền phí bãi trông giữ xe của anh C, anh C đã chuyển tiền cho T. Sau đó, T nói với anh C về việc T có khả
năng xin cho người vào ngành Công an không phải đi nghĩa vụ, được được đi làm luôn, đeo hàm thiếu uý làm chuyên ngành quản lý hành chính và hỏi anh C có muốn xin cho con trai vào ngành thì T sẽ giúp, anh C đồng ý. Ngày 12/9/2024, T yêu cầu anh C chuyển cho T số tiền 20.000.000 đồng là tiền học phí phải đóng cho con anh C để học bồi dưỡng kiến thức vào ngành, anh C đã chuyển số tiền này cho T. Cùng ngày T yêu cầu anh C chuyển số tiền 50.000.000 đồng tiền quà để lo cho con anh C vào ngành, anh C đã chuyển số tiền này cho T. Tổng số anh C đã chuyển cho T là 100.400.000 đồng. T nhận tiền của anh C nhưng không thực hiện giúp anh C mà đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Vụ thứ hai: Khoảng cuối tháng 8/2024, khi đi trên xe buýt T làm quen với anh Nguyễn Mạnh T1 và biết anh T1 có nhu cầu mua điện thoại nên T tự nhận mình là cán bộ Công an và nói “khi nào cơ quan em có đợt thanh lý điện thoại giá rẻ thì em sẽ báo”, anh T1 đồng ý. Sau đó, anh T1 gọi điện thì T nói với anh T1 là cơ quan đang có chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung S24 Ultra là vật chứng thanh lý với giá 5.000.000 đồng, nếu anh T1 muốn mua thì T sẽ giúp làm thủ tục mua hộ, anh T1 đồng ý. Ngày 29/8/2024, anh T1 đã chuyển khoản cho T số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản số 0968624254 tại Ngân hàng M1 của T. T nhận tiền của anh T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng đầu tháng 9/2024, T đi trên xe buýt đã làm quen với anh Nguyễn Trọng Q và biết anh Q đang cần mua điện thoại nên T tự nhận mình là cán bộ Công an. Tuyền có nói với anh Q, cơ quan đang có điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, S là vật chứng thanh lý với giá tổng là 8.000.000 đồng và khi mua 02 chiếc điện thoại nêu trên thì sẽ cho thêm 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, nếu anh Q muốn mua T sẽ làm thủ tục mua giúp. Anh Q đồng ý và đã chuyển khoản cho T số tiền 8.000.000 đồng đến tài khoản số 14947361 tại Ngân hàng A vào ngày 03/9/2024, theo hướng dẫn của T. Cùng ngày, T nói với anh Q là T đang cần số tiền 1.100.000 đồng để mua điện thoại cho em gái nhưng hiện đang không có tiền, nên nhờ anh Q cho vay tiền, anh Q đồng ý và đã chuyển tiền cho cho T. Ngày 09/9/2024, T yêu cầu anh Q chuyển số tiền 1.750.000 đồng là phí để đăng ký xe máy, anh Q đã chuyển tiền cho T số tiền trên. Tổng số anh Q đã chuyển cho T là 10.850.000 đồng. T nhận tiền của anh Q đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Ngày 16/9/2024, qua quen biết với anh Dương Văn H1 và biết anh H1 đang bị Công an huyện Ứ tạm giữ xe máy chờ xử lý lỗi vi phạm giao thông nên T gọi điện thoại cho anh H1 giới thiệu bản thân là cán bộ Công an
quận H và có khả năng xin xe máy về không bị xử phạt hành chính, nếu anh H1 có nhu cầu thì T giúp và cần 5.000.000 đồng để cảm ơn, anh H1 đồng ý. T bảo anh H1 chuyển khoản vào số tài khoản mang tên Tống Thị N1 là bạn gái T và nói đây là số tài khoản của cán bộ đội Cảnh sát giao thông huyện Ứ1 trực tiếp xử lý trường hợp xe của anh H1. Anh H1 đã chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng cho N1 theo hướng dẫn của T. Sau khi nhận tiền chị N1 đã chuyển lại cho T. Ngày 17/9/2024, T chuyển lại số tiền 5.000.000 đồng trả anh H1 và nói “chị N1 chuyển lại tiền vì chưa thể xin được không xử lý vi phạm giao thông”. Ngày 18/9/2024, T gọi điện báo với anh H1 là đã có cách xin được cho H1 xe và không bị xử lý vi phạm giao thông, yêu cầu anh H1 chuyển tiền chi phí lo việc, anh H1 đồng ý và đã chuyển khoản cho T số tiền 5.000.000 đồng. T đã không xin được xe cho anh H1 mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền của anh H1.
Ngày 23/9/2024, anh Nguyễn Kim C đã đến cơ quan Công an trình báo về việc bị T lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã tiến hành triệu tập Lê Đình T đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, T biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình nên T xin đầu thú.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu đen, số IMEI 1 là 867013048205319, số IMEI 2 là 867013048205301, đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Đình T).
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Với hành vi nên trên cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Lê Đình T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” qui định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 30 tháng tù đền 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
- + Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, không đề nghị giải quyết.
- + Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu đen, số IMEI 1 là 867013048205319, số IMEI 2 là 867013048205301, đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Đình T).
- + Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà các bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Từ tháng 08/2024 đến tháng 09/2024, Lê Đình T do cần tiền chi tiêu cá nhân nên đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối, tự nhận mình là cán bộ của các đơn vị thuộc ngành Công an nhân dân để cho anh Nguyễn Kim C; anh Nguyễn Trọng Q; anh Nguyễn Mạnh T1 và anh Dương Văn H1 tin tưởng rồi nhiều lần chuyển tiền qua tài khoản cho T với tổng số tiền là 121.250.000 đồng. T đã chiếm đoạt và sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Do vậy, Hành vi của Lê Đình T đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhiều lần với nhiều bị hại với mỗi lần phạm tội đều trên 2.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo ra đầu thú, đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Trách nhiệm dân sự: các bị hại anh Nguyễn Kim C, Nguyễn Trọng Q, Dương Văn H1, Nguyễn Mạnh T1 đã nhận số tiền bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì khác; Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Bà Tạ Thị N không yêu cầu bị cáo Lê Đình T phải hoàn trả tiền bồi thường các bị hại do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu đen, số IMEI 1 là 867013048205319, số IMEI 2 là 867013048205301, đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Đình T), là phương tiện T dùng để gọi điện, nhắn tin thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 174 điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;
- Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Xử phạt bị cáo Lê Đình T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/9/2024.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Đình T.
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu đen, số IMEI 1 là 867013048205319, số IMEI 2 là 867013048205301, đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứ, TP . với Chi cục thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP . ngày 28/02/2025.)
- Về án phí: Bị cáo Lê Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. /.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 22/2025/HSST (Thụ lý) ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 22/2025/HSST (Thụ lý)
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Lê Đình T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
