Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 25-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương; Bà Vũ Thị Ngân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thi Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 và thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 05/TB - TA ngày 07/3/2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thành G, Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 17/9/1968, tại phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị;

Cư trú: số nhà 672, đường Quốc lộ 9, khu phố 4, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: N, đã chết. Năm 1985, ông S được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1938. Năm 1997, bà M được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Vợ: Nguyễn Thị G1, sinh năm 1976; Có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Các năm 2007, 2008, 2013, 2015, 2017, 2021, 2022 được Giám đốc, Ban Chấp hành Công đoàn công ty Đ tặng Giấy khen “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Ngày 29/5/2004, bị Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 60.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, chấp hành xong quyết định ngày 12/7/2004; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2024.

Bị hại: Ông Nguyễn Vinh T, sinh năm 1962. (đã chết)

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Những người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  • - Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1953 (vợ ông T )
  • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 (con ông T )
  • - Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1988 (con ông T)
  • - Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990 (con ông T )

Đều cư trú: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp cho bị hại:

Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990 (con ông T )

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty Đ.

Địa chỉ: Số A, T, phường A, TP Đ, tỉnh Quảng Trị.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn V- Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Xuân P- Phó trưởng phòng tổ chức và nhân sự.

Người làm chứng:

  • - Anh Phan Khánh T2, sinh năm 1993.
  • Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị.
  • - Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989.
  • Nơi cư trú: khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị
  • - Chị Vũ Thị M1, sinh năm 1974.
  • Nơi cư trú: tổ D, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
  • - Chị Trần Thị D, sinh năm 1993.
  • Nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo. Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Thành G có giấy phép lái xe ô tô hạng C, giá trị đến ngày 15/3/2029. Tháng 7/2006, G hợp đồng lái xe ô tô tải cho Tổng Công ty Đ1, địa chỉ: số G D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, được phân công làm việc tại chi nhánh công ty Đ, địa chỉ: số A T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Ngày 11/9/2024, G được Giám đốc công ty Đ cử điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hinno, loại xe tải có cần cẩu, màu sơn trắng, biển số 74C-078.56 tham gia đoàn hỗ trợ Công ty Đ2 khôi phục lưới điện bị hư hại bởi bão số 3 (Y). Sáng ngày 20/9/2024, hoàn thành nhiệm vụ, G điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu, biển số 74C-078.56, từ tỉnh Quảng Ninh qua thành phố Hải Phòng, theo đường Q, hướng Hải Phòng đi Thái Bình, về tỉnh Quảng Trị. Cùng đi có 02 thành viên của tổ công tác gồm anh Phan Khánh T2 và anh Nguyễn Văn T3 ngồi ghế phụ bên phải. Khoảng 11 giờ 20 phút, xe ô tô G điều khiển đi đến km 59 +500 mét, thuộc tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Đường Quốc lộ 10 rải nhựa asphalt tương đối bằng phẳng rộng 10,75 mét, chia thành 02 chiều đi, chiều Hải Phòng đi Thái Bình và ngược lại, phân chia bằng vạch sơn màu vàng kẻ nét đứt (rộng 0,15 mét, dài 02 mét) dọc tim đường. Mỗi chiều có 02 làn đường, phân chia bằng vạch sơn màu trắng kẻ nét liền. Chiều Hải Phòng đi Thái Bình làn đường sát tim đường rộng 3,5 mét, làn sát mép đường rộng 1,65 mét, tiếp đến lề đường bê tông cao hơn mặt đường 0,02 mét và khu dân cư, lề đường có cột km 59+500 mét. Chiều Thái B1 đi Hải Phòng làn sát tim đường rộng 3,3 mét, làn sát mép đường rộng 1,7 mét, tiếp đến lề đường đất cỏ mọc và cánh đồng. Lúc này, đường khô, mật độ phương tiện giao thông đông. G không sử dụng rượu bia, ma túy hoặc chất kích thích, điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 45km/h, trên làn giáp tim đường bên phải. Ở phía trước cùng làn đường hơn 10 mét có xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ đen, biển số 17K9-4585, do ông Nguyễn Vinh T có giấy phép lái xe hạng A1, đội mũ bảo hiểm điều khiển đi với tốc độ thấp hơn (35 km/h), cách mép đường bên phải khoảng 2,5 mét; phía trong trên làn giáp mép đường bên phải có xe máy điện, nhãn hiệu JVC, màu sơn trắng đen, biển số 17MĐ5-136.73, do chị Vũ Thị M1 điều khiển đi cùng chiều; phía ngược chiều có nhiều phương tiện (xe ô tô tải) đi trên làn giáp tim đường tới. Cho rằng có thể vượt lên bên trái xe mô tô nên G giữ nguyên tốc độ, bấm còi báo hiệu xin vượt. Xe mô tô ông T điều khiển không giảm tốc độ, vượt lên bên trái xe máy điện chị M1. Do tập trung quan sát để đảm bảo an toàn với xe ô tô tải đi trên làn giáp tim đường ngược chiều tới nên khi đầu xe ô tô G điều khiển vượt lên song song với xe mô tô thì mặt ngoài trục và ốc hãm hình lục giác đều thứ nhất, thứ hai (tính từ vị trí chân van theo chiều chuyền động tiến) bánh trước bên phải xe ô tô tải mắc vào mặt sau ống quần bên trái ông T làm cho ông T ngã nghiêng trái, đầu đội mũ bảo hiểm, vai và lưng va chạm với má ngoài bánh ngoài trục sau bên phải xe ô tô. Ông T bị đẩy vào lề đường nằm nghiêng phải, đầu hướng phía Hải Phòng; xe mô tô đổ trái trượt rê trên mặt đường 9,6 mét. Chị M1 điều khiển xe máy điện đi ở làn giáp mép đường bên phải ngay phía sau thấy vậy đã bóp phanh, đánh lái sang phải để tránh va chạm nên cũng bị ngã đổ phải ở lề đường. Nghe có tiếng phương tiện đổ phía sau, G và anh T3 nhìn qua gương chiếu hậu bên phải thấy ông T và xe mô tô nằm trên đường đã chủ động giảm tốc độ, dừng xe cách khoảng 50 mét. G bảo anh T3 quay lại hiện trường tìm hiểu sự việc còn G và anh T2 đi vòng quanh xe kiểm tra nhưng không phát hiện thấy có dấu vết va chạm. Anh T3 đi bộ lại cách vị trí ông T và xe mô tô đổ khoảng 20 mét gặp chị Trần Thị Diễm B2 quán nước bên đường hỏi “Có phải va vào xe em không?”. Do thấy xe mô tô, ông T, xe máy điện và chị M1 ngã đổ trên mặt đường cho rằng hai phương tiện này va chạm với nhau không liên quan đến xe ô tô G điều khiển nên chị D nói “Hai xe máy va chạm với nhau, không liên quan đến xe ô tô của anh, anh đi đi không tắc đường”. Ông T được người dân đưa ngay vào Trạm Y tế thị trấn A, huyện Q. Anh T3 quay lại bảo G “Không phải va chạm với xe của mình, hai xe máy va chạm với nhau, họ vào trong lề đường rồi”. Do không biết xe ô tô va chạm với xe mô tô và ông T, sau khi nghe anh T3 nói G tiếp tục điều khiển xe chở anh T3, anh T2 đi theo lộ trình. Chị M1 không bị thương tích đã để lại thông tin cá nhân rồi điều khiển xe đi về. Nhận nguồn tin của quần chúng nhân dân, Công an thị trấn A đã báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q thụ lý, xác minh. Qua nguồn dữ liệu điện tử, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã điện báo cho công ty Đ. G điều khiển xe về đến tỉnh Nam Định nhận được thông tin đã chủ động liên hệ, điều khiển xe ô tô về Công an huyện Q. Hậu quả: ông T bị sây sát da, rách da, trượt miết da, sưng nề, tụ máu vùng đầu, mặt và toàn thân; gãy xương bả vai hai bên, xương đòn hai bên, các xương sườn cung trước và cung sau hai bên, gãy đốt sống cổ số 3 và 4 di lệch, đứt tủy sống, tử vong trên đường đưa đến Bệnh viện Đ3, huyện Q do đa chấn thương; chị M1 không bị thương tích;

Kết luận giám định tử thi số 1432/KLGĐTT-KTHS, ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da, rách da, trượt miết da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Gãy xương bả vai hai bên, xương đòn hai bên, các xương sườn cung trước và cung sau hai bên. Khám trong: Gãy đốt sống cổ số 3,4 di lệch, đứt tủy sống. 2. Kết luận: Nạn nhân Nguyễn Vinh T chết do đa chấn thương”

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSQP ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo G về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo G đã khai nhận toàn bộ diễn bến hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện viện kiểm sát đã công bố. Sau tai nạn giao thông, bị cáo đã khắc phục hậu quả xảy ra cho những người đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo G về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo G mức tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự và bảo hiểm dân sự đã thỏa thuận, giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo 01giấy phép lái xe ô tô. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo có lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường (kèm bản ảnh) vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 20/9/2024; Biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông (kèm bản ảnh) do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 14 giờ 30 phút, 16 giờ, 17 giờ ngày 21/9/2024; Biên bản xem xét quần áo mặc ngoài của bị hại Nguyễn Vinh T ở thời điểm bị tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 17 giờ 35 phút ngày 21/9/2024; Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 20/9/2024; Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 21/9/2024 và 09 giờ ngày 27/9/2024; Biên bản làm việc, biên bản giao nhận, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 24/9/2024; Công văn số 486/KTHS, ngày 28/10/2024 và Công văn số 549/KTHS, ngày 28/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Biên bản đo nồng độ cồn hồi 17 giờ 47 phút ngày 20/9/2024 đối với bị cáo G. Lời khai của người làm chứng: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989, cư trú: khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị ; Phan Khánh T2, sinh năm 1993, cư trú: khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Vũ Thị M1, sinh năm 1974, cư trú: tổ D, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Trần Thị D, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 20/9/2024, tại km 59+500 mét, đường Q, thuộc tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Thành G có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hinno, loại xe tải có cần cẩu, màu sơn trắng, biển số 74C-078.56, với tốc độ từ 39,24 đến 45,36 km/h, ở làn giáp tim đường bên phải, hướng Hải Phòng đi Thái Bình, khi ở phía trước cùng chiều đường, cách hơn 10 mét, có phương tiện là xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ đen, biển số 17K9-4585, do ông Nguyễn Vinh T, có giấy phép lái xe hạng A1, đội mũ bảo hiểm, điều khiển đi với tốc độ thấp hơn và xe máy điện, nhãn hiệu JVC, màu sơn trắng đen, biển số 17MĐ5-136.73, do chị Vũ Thị M1 điều khiển đi ở làn giáp mép đường bên phải, phía ngược chiều có xe ô tô tải đi trên làn giáp tim đường tới, dù đã bấm còi báo hiệu xin vượt nhưng xe mô tô ông T điều khiển không giảm tốc độ, đang vượt lên bên trái xe máy điện do chị M1 điều khiển nên khi đầu xe ô tô G điều khiển vượt lên song song với xe mô tô thì mặt ngoài trục và ốc hãm hình lục giác đều thứ nhất, thứ hai (tính từ vị trí chân van theo chiều chuyền động tiến) bánh trước bên phải xe ô tô tải đã mắc vào mặt sau ống quần bên trái ông T làm cho ông T ngã nghiêng trái, đầu đội mũ bảo hiểm, vai và lưng va chạm với má ngoài bánh ngoài trục sau bên phải xe ô tô, xe mô tô đổ trái, chị M1 do để tránh va chạm với ông T và xe mô tô cũng bị ngã đổ ở lề đường. Hậu quả: ông T bị tử vong do đa chấn thương; chị M1 không bị thương tích; xe ô tô, mô tô và xe máy điện trầy xước nhựa, kim loại. Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả làm ông T bị tử vong sau tai nạn giao thông. Hành vi đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, bị cáo không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ quy định về vượt xe nên đã gây tai nạn với xe mô tô do ông T điều khiển chạy cùng chiều, làm ông T tử vong. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho thấy: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả xảy ra, bản thân quá trình lao động nhiều năm liền được công ty Đ tặng Giấy khen “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét về nguyên nhân tai nạn người bị hại cũng có lỗi một phần khi tham gia giao thông khi có tín hiệu còi xin vượt đã không giảm tốc độ và đi sát vào phần đường bên phải mà lại điều khiển xe vượt lên bên trái phương tiện cùng chiều đã vi phạm khoản 3 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Vì vậy khi lượng hình cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, hiện tại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Mặt khác bị cáo tham gia giao thông vì lý do công ích, giúp khắc phục hậu quả sau cơn bão số 3 (bão Yagi). Đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thì cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nhân văn.

[6] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông khi tham gia hoạt động cứu hộ thiên tai nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo G và công ty Đ đã thỏa thuận, bồi thường thiệt hại về tài sản, thiệt hại do tính mạng bị xâm hại cho gia đình bị hại Nguyễn Vinh T số tiền 180.000.000 đồng. Đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm. Chị Vũ Thị M1 không bị thương tích, xe máy điện bị trầy xước nhựa và không yêu cầu bồi thường. Số tiền bồi thường thiệt hại cũng như việc thanh toán bảo hiểm trách nhiệm dân sự bị cáo G và Công ty Đ không yêu cầu giải quyết. Vì vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết

Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn đỏ đen vàng, biển số 17K9-4585 của bị hại Nguyễn Vinh T. Xe ô tô tải cần cẩu, nhãn hiệu HINO, sơn màu trắng, phủ bạt màu xanh, biển số 74C-078.56 là tài sản hợp pháp của Công ty Đ. Xe máy điện, nhãn hiệu JVC, màu sơn trắng đen, biển số 17MĐ5-136.73 của chị Vũ Thị M1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý trả các phương tiện, giấy tờ có liên quan cho đại diện bị hại, đại diện công ty Đ và chị M1. Đối với bộ quần áo mặc ngoài, đôi dép và chiếc mũ bảo hiểm sau khi hoàn thành việc kiểm tra, lấy mẫu giám định Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho gia đình bị hại quản lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 15/3/2024, mang tên Nguyễn Thành G, do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì vậy cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành G 35.000.000 đồng (Ba mươi năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. T4 trả lại bị cáo G 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 15/3/2024, mang tên Nguyễn Thành G
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Những ngời đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp cho bị hại,
  • người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger