Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điều

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Hoàng Tiến

Ông Nguyễn Thành Luân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Võ Hoàng T, sinh năm 2005; tại thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Số B, tổ E, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Số A, khóm C, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị Ngọc B; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, ngày 29/11/2023 bị Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “gây rối trật tự công cộng”; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2024

“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

2. Nguyễn Thanh B1, sinh năm 2002; tại huyện L, tỉnh Vĩnh Long; trú tại: Số C, tổ B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị H1; tiền án: không; tiền sự: 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Ngày 07/12/2023 bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (nộp phạt xong); Ngày 26/02/2024 bị Công an phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt); Ngày 21/5/2024 bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt); bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2024

“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

- Bị hại:

Lê Thị Thúy K, sinh năm 2006 “Có mặt”

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Võ Thị Thanh X, sinh năm 2004“Có mặt”
  2. Bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1965“Có mặt”
  3. Cùng địa chỉ: Số A63, khóm 3, phường 9, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

  4. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 “Có mặt”
  5. Địa chỉ: Ấp Tân An, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

  6. Chị Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1983 “Vắng mặt”
  7. Địa chỉ: Ấp Tân Thới, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

  8. Chị Phạm Thị X1, sinh năm 1988“Vắng mặt”
  9. Địa chỉ: Số 140D, Nguyễn Văn Lâu, phường 8, tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

  10. Trần Thị Thanh T3, sinh ngày 07/4/2010 “Vắng mặt”
  11. Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Chị Huỳnh Thị T4, sinh năm 1986 “Vắng mặt”

    Cùng địa chỉ: Khóm T, thị trấn T (cũ ấp T, xã T), huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Hoàng T và bị cáo Nguyễn Thanh B1 là bạn bè của nhau, cả hai thường xuyên đi chơi chung với nhau. Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 24/10/2024 bị cáo T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, biển số 64B2-362.61 của chị ruột tên Võ Thị Thanh X rồi chở bị cáo B1 từ nhà đi qua thị xã B để chơi. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày thì cả hai ra về, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên cả hai bàn với nhau sẽ tìm tài sản của người dân để lấy trộm. Khi đến cầu B thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì bị cáo T và bị cáo B1 nhìn thấy chị Lê Thị Thúy K, sinh ngày 05/10/2006, HKTT: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long một mình điều khiển xe mô tô chạy hướng từ xã P đến chợ S1 nên bị cáo B1 kêu bị cáo T chạy vượt lên trước mặt chị K để chặn đầu xe, bị cáo T hiểu ý của bị cáo B1 là chặn đầu xe để B1 cướp tài sản của chị K. Nghe vậy nên T tăng ga chạy lên ngang xe chị K, bị cáo B1 kêu chị K dừng xe thì chị K dừng xe lại, bị cáo T chạy vượt lên trước cách xe của chị K khoảng 04 mét thì dừng lại cho bị cáo B1 nhảy xuống xe. Bị cáo B1 chạy lại chỗ của chị K rồi lấy con dao có chiều dài khoảng 15cm, bề rộng lưỡi dao khoảng 02cm từ trong người ra cầm bằng tay phải đưa về hướng chị K nói “tiền đâu lấy ra”, sau đó bị cáo B1 dùng tay cầm dao nắm áo của chị K, tay còn lại lục tìm tài sản trên người của chị. Lúc này chị K nói “em chỉ có tiền hà”, rồi chị K lấy ra 50.000 đồng thì bị cáo B1 giật lấy tiền và tiếp tục lục tìm trên người của chị K lấy được máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10. Sau khi lấy tài sản xong thì bị cáo B1 nhanh chóng lên xe cho bị cáo T chở về hướng thành phố V để tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát thì bị cáo B1 đã ném bỏ con dao, bị cáo B1 lấy điện thoại cho bị cáo T xem và nói “mới lấy được” thì bị cáo T nhìn thấy đây là điện thoại cảm ứng màu đỏ mà không thấy hiệu gì. Khi về đến nhà trọ của bị cáo T thì bị cáo T vào phòng trọ ngủ, còn bị cáo B1 vào chơi một lúc rồi cầm điện thoại vừa cướp được đi về nhà.

Đến chiều ngày 24/10/2024 bị cáo B1 đến nhà anh Phạm Bảo V, sinh năm 1997, HKTT: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để chơi, tại đây bị cáo B1 dùng điện thoại vừa cướp được của chị K vào mạng xã hội zalo của chị K còn lưu trên điện thoại rồi nhắn tin cho bạn của chị K là anh Trần Anh K1, sinh ngày 24/11/2006, HKTT: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để mượn tiền anh K1 mua đồ trên mạng. Anh K1 nghĩ người nhắn tin cho mình là chị K nên đã cho chị K mượn tiền, anh K1 chuyển khoản 100.000 đồng vào tài khoản số 7300205166292 mang tên LE THI THANH TUYEN của chị Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1983, HKTT: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, tài khoản do bị cáo B1 cung cấp, nhà chị T2 ở gần nhà anh V (chị T2 làm nghề mua bán tạp hóa và nhận rút tiền, chuyển khoản). Sau khi có tiền bị cáo B1 nhờ Trần Thị Thanh T3, sinh ngày 07/4/2010, HKTT: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là bạn của anh V, đang ở nhà anh V đến gặp chị T2 nhận 100.000 đồng cho bị cáo B1. Sau đó bị cáo B1 tiếp tục mượn tiền anh K1, anh K1 cũng nghĩ chị K là người nhắn tin cho mình nên tiếp tục chuyển 70.000 đồng vào tài khoản số 4812368595566 mang tên BUI HOANG TUAN để nạp vào tài khoản game cho bị cáo B1 chơi game trực tuyến (game liên quân), tài khoản cũng do bị cáo B1 cung cấp. Đến tối cùng ngày bị cáo B1 lên phường H, thành phố V để chơi, lúc này xe hết xăng nên bị cáo B1 đã vào tiệm điện thoại Phúc Khang do chị Phạm Thị X1, sinh năm 1988, HKTT: số A, N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long làm chủ để mượn 400.000 đồng, bị cáo B1 để lại điện thoại cướp được của chị K để làm tin. Số tiền 400.000 đồng bị cáo B1 dùng để đổ xăng, trả tiền chơi game và mua đồ ăn chung với bị cáo T.

Do bận công việc nên đến 11 giờ 30 phút ngày 25/10/2024, chị K đến Công an xã S để trình báo sự việc. Ngày 31/10/2024, Công an xã S chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để tiến hành xác minh, xử lý theo quy định.

Ngày 01/11/2024, bị cáo Võ Hoàng T đến Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long để tự thú và giao nộp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu nâu đỏ, biển số 64B2-362.61 đã qua sử dụng về hành vi Cướp tài sản vào ngày 24/10/2024 tại ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 04/11/2024, bị cáo Nguyễn Thanh B1 đến Công an huyện T để đầu thú về hành vi cướp tài sản vào ngày 24/10/2024 và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10 màu đỏ, đã qua sử dụng.

Ngày 04/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Võ Hoàng T, Nguyễn Thanh B1 về tội cướp tài sản theo khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 51/KL.ĐGTS ngày 03/12/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự huyện T kết luận:

+ Một điện thoại di động Samsung A10, đã qua sử dụng, mua năm 2019 có giá bình quân thị trường tại thời điểm xảy ra vụ án là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi nghìn đồng)

Quá trình điều tra bị cáo Võ Hoàng T và bị cáo Nguyễn Thanh B1 đã thừa nhận hành vi cướp tài sản của mình.

Đối với hành vi của chị Võ Thị Thanh X khi cho bị cáo T mượn xe mô tô biển số 64B2-362.61 thì chị không biết bị cáo T và bị cáo B1 sử dụng xe để thực hiện hành vi cướp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý.

Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Thanh B1 với anh Trần Anh K1 số tiền 170.000 đồng thì chưa đến mức xử lý hình sự, qua tra cứu tiền án, tiền sự thì bị cáo Nguyễn Thanh B1 cũng không có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh B1 số tiền 2.500.000 đồng.

Đối với chị Lê Thị Thanh T2 và chị Trần Thị Thanh T3 là người nhận tiền và rút tiền cho bị cáo Nguyễn Thanh B1 thì hai chị cũng không biết số tiền này do bị cáo B1 lừa đảo mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý.

Đối với chị Phạm Thị X1 là chủ cửa hàng điện thoại di động Phúc Khang khi bị cáo B1 mượn tiền và gửi điện thoại cướp được của chị K để làm tin thì chị X1 không biết điện thoại là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, biển số 64B2-362.61 quá trình xác minh là của chị Nguyễn Ngọc N, sinh năm 2002, HKTT: B113, khóm C, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long mua mới bằng hình thức trả góp từ năm 2020, chị N sử dụng đến tháng 7/2023 thì bán lại cho bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1965, HKTT: khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh đang ở trọ tại số A, khóm C, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, bà B là mẹ ruột của chị Võ Thị Thanh X và bị cáo Võ Hoàng T. Khi mua bán thì chị N và bà B không có làm giấy tờ, do xe chưa trả góp xong nên chị N chưa giao giấy đăng ký xe cho bà B. Sau khi mua xe thì bà B giao xe cho chị X làm phương tiện di chuyển để đi làm, đến tối ngày 24/10/2024 thì chị X cho T mượn xe mà không biết T sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với hung khí là con dao mà bị cáo B1 dùng để đe dọa cướp tài sản thì bị cáo B1 khai trên đường tẩu thoát đã ném bỏ con dao, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10 màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • - Tiền Việt Nam 50.000 đồng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, biển số 64B2-362.61, đã qua sử dụng.

Xét thấy việc trả lại vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 20/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại tài sản là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10 màu đỏ, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 50.000 đồng cho chị Lê Thị Thúy K.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Thúy K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo T và B1 bồi thường gì thêm.

Đối với số tiền 170.000 đồng mà bị cáo B1 đã thực hiện hành vi lừa đảo anh Trần Anh K1 thì bị cáo B1 đã nhờ cha ruột là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978, HKTT: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long khắc phục xong, số tiền này ông T1 không yêu cầu bị cáo B1 phải trả lại cho ông. Anh Trần Anh K1 cũng không yêu cầu bị cáo B1 phải bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSTB ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân nhân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố các bị cáo: Võ Hoàng T và Nguyễn Thanh B1 về tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T và Nguyễn Thanh B1 phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào các điều: điểm d khoản 2 Điều 168; các Điều 17, 38, 58; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Hoàng T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Căn cứ vào các điều: điểm d khoản 2 Điều 168; các Điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B1 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị trả lại bà Võ Thị Ngọc B 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, biển số 64B2-362.61 đã qua sử dụng.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo T, bị cáo B1 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T và bị cáo B1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Lê Thị Thúy K xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo. Trách nhiệm dân sự đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thấy có lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai của các bị cáo Võ Hoàng T và Nguyễn Thanh B1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được đưa ra xem xét tại phiên tòa hôm nay, qua đó xác định: Vào ngày 24/10/2024 tại cầu B thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long bị cáo Võ Hoàng T và bị cáo Nguyễn Thanh B1 đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đe dọa cướp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10 màu đỏ, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng và số tiền 50.000 đồng của chị Lê Thị Thúy K, tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 850.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo T và bị cáo B1 là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng đêm khuya, vắng người các bị cáo phát hiện người bị hại chạy xe trên lộ một mình là nhanh chóng tiếp cận dùng hung khí khống chế người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, đồng thời gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu là chiếm đoạt tài sản, bị cáo T trực tiếp điều khiển xe, bị cáo B1 trực tiếp dùng hung khí thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo là đồng phạm có tính chất tương đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau.

[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, các bị cáo vận động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị cáo T ra tự thú, bị cáo B1 ra đầu thú và bị cáo B1 có ông nội là người có công và được tặng Huy chương, Bằng khen; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo B1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, Biển số kiểm soát 64B2-362.61 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Võ Thị Ngọc B.

[7]Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo T và bị cáo B1 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở như nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng T và Nguyễn Thanh B1 phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào các điều: điểm d khoản 2 Điều 134; b, r, s, khoản 1, khoản 2 Điều Điều 51; các Điều 17,38, 54, 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2024.

Căn cứ vào các điều: điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38,54,58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B1 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2024.

3.Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không yêu cầu gì nên miễn xét.

4.Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ nâu, Biển số kiểm soát 64B2-362.61 cho bà Võ Thị Ngọc B.

5.Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Võ Hoàng T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Tam Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Bình;
  • - UBND nơi thường trú các bị cáo;
  • - Các bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Văn Điều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger