Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

Bản án số: 27/2025/DS-ST

Ngày: 17-03-2025

Về việc tranh chấp hợp đồng

mua bán tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Nhị
  2. Ông Võ Đức Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 10, 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2024/TLST–DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số B khu dân cư N, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

- Ông Hà Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A T, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số D C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền ngày 23/4/2024)

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh P, sinh năm: 1976; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn M do ông Hà Văn T, ông Nguyễn Minh T1 đại diện trình bày: Ngày 27/11/2023 ông Lê Văn M có giao kết hợp đồng mua bán và lắp đặt TiVi bằng lời nói với ông Huỳnh Thanh P. Hai bên có thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa là T2 cường lực phục vụ quán Karaoke của Công ty TNHH Đ. Nội dung được thể hiện tại ứng dụng tin nhắn zalo và video đã được ghi nhận lại tại Vi bằng số: 87/2024/VB-TPL ngày 29/01/2024 lập tại Văn Phòng Thừa Phát Lại T và 01 USB đính kèm Vi bằng nộp kèm đơn khởi kiện. Tính đến ngày 27/11/2023 ông Lê Văn M đã giao đủ hàng hóa và lắp đặt đầy đủ 37 Tivi cho ông Huỳnh Thanh P tại 02 quán Karaoke. Cụ thể: 32 tivi giao (lắp đặt 29 tivi và dự phòng 03 tivi) và lắp đặt tại quán K 135 tại địa chỉ: Số A Đường số B -số C Đường số H, Thị Trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Và 05 tivi còn lại giao (03 lắp đặt và 02 dự phòng) tại quán K1 tại đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Các đơn hàng được thể hiện chi tiết theo bảng được liệt kê như sau

  1. Tivi Cường lực 50 KTV, số lượng 4, đơn giá 6.500.000 đồng, thành tiền 26.000.000 đồng.
  2. Tivi Cường lực 55 KTV, số lượng 13, đơn giá 7.500.000 đồng, thành tiền 97.500.000 đồng.
  3. Tivi Cường lực 65 KTV, số lượng 20, đơn giá 9.000.000 đồng, thành tiền 180.000.000 đồng.

Tổng cộng 37 cái tivi với giá trị đơn hàng là 303.500.000 đồng (Ba trăm lẽ ba triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau khi giao hàng và lắp đặt xong ông Lê Văn M đã liên hệ ông Huỳnh Thanh P đề nghị thanh toán và ký nhận biên bản giao hàng. Tuy nhiên ông Huỳnh Thanh P liên tục né tránh và không nghe máy điện thoại. Sau đó ông Lê Văn M có xuống làm việc nhiều lần tìm gặp nhưng chỉ gặp được nhân viên của ông Huỳnh Thanh P tại quán Karaoke. Quá trình liên hệ với ông Huỳnh Thanh P để đề nghị thanh toán rất khó khăn do ông Huỳnh Thanh P không hợp tác và tìm nhiều lí do để né tránh đến nay ông Huỳnh Thanh P chưa thanh toán cho ông Lê Văn M. Do ông M không liên hệ được ông P nên đã cài đặt khoảng 10 cái tivi loại 55 inch theo chế độ ngược và text nên không mở được, còn lại phía ông M đã lắp đặt đúng và sử dụng được. Do đó ông Lê Văn M yêu cầu như sau: Buộc ông Huỳnh Thanh P thanh toán cho ông Lê Văn M toàn bộ khoản nợ là 303.500.000 đồng (Ba trăm lẻ ba triệu, năm trăm nghìn đồng). Buộc ông Huỳnh Thanh P thanh toán cho ông Lê Văn M toàn bộ số tiền lãi do chậm trả, tính từ ngày 28/11/2023 đến ngày 25/4/2024 với lãi suất 10%/năm là: 12.561.528 đồng (mười hai triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, năm trăm hai mươi tám đồng). Và tiền lãi chậm trả là 10%/năm cho đến khi trả hết nợ. Tổng số tiền ông Lê Văn M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Thanh P thanh toán số tiền tính đến ngày 25/4/2024 là: 316.061.528 đồng và tiền lãi chậm trả cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Ngoài ra nguyên đơn không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Thanh P trình bày: Ông P thừa nhận có việc đặt mua tổng cộng 30 cái tivi 65 inch hiệu Woolpad. Khi mua thỏa thuận giá 9.000.000đ/cái, tổng cộng 270.000.000đ. Các bên thỏa thuận sau khi lắp đặt xong thì tiến hành nghiệm thu và trả tiền bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản, hai bên không đặt cọc trước. Nhưng sau đó bên ông M nhắn tin thỏa thuận lắp đặt trước 13 cái 65 inch và 13 cái tivi 55 inch thì ông P không trả lời xác nhận. Ngày 27/11/2023, bên ông M đưa nhân viên đến lắp đặt thì ông P không có mặt. Khi đó ông P kêu bà T3 là nhân viên của ông P ra nhận hàng và giám sát việc lắp đặt đồng thời kiểm tra hàng hóa để nghiệm thu và báo cho ông P thanh toán. Tuy nhiên sau khi lắp đặt thì tivi không mở lên để sử dụng được và giao hàng không đúng thỏa thuận như ban đầu nên phía ông P không nhận hàng và không trả tiền cho ông M. Hiện nay ông P xác định bên phía ông M đã lắp 24 cái tivi. Sau khi xảy ra mâu thuẫn thì ông P yêu cầu nhân viên của ông M gỡ ra để vào một vị trí khác nhưng trong khuôn viên của quán. Do ngày 01/12/2023 ông P phải khai trương quán nên đã mua hàng của người khác lắp để sử dụng. Nay ông P yêu cầu ông M tự đến mang về hoặc ông M phải cử nhân viên tới kiểm tra tất cả số tivi hiện có, cái nào không đúng hàng ông đặt thì ông P không nhận, cái nào đúng hàng ông đặt và ông sử dụng được thì ông trả tiền, cái nào không sử dụng được thì yêu cầu ông M nhận về. Đối với những cái tivi sử dụng được thì ông P trả tiền cho ông M một lần. Ông P không yêu cầu bồi thường trong vụ án này. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

***

Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào để xem xét tại phiên tòa.

Nguyên đơn thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu ông P thanh toán đối với 32 cái tivi trong đó 04 cái 50 inch, 13 cái 55 inch, 15 cái 65 inch, tất cả hiệu Woolpad. Đối với 05 cái tivi hiệu Kuking không có trong thỏa mua bán thì ông M yêu cầu ông P trả lại và ông không yêu cầu ông M phải thanh toán bất kỳ chi phí nào. Đối với yêu cầu tính lãi thì ông M xin rút lại và không yêu cầu ông P phải trả lãi như theo đơn khởi kiện. Ông P đồng ý trả lại toàn bộ tivi hiện ông đang giữ và không đồng ý thanh toán cho ông M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với 06 cái tivi 65 inch hiệu Woolpad, đình chỉ yêu cầu trả lãi của nguyên đơn do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ông Lê Văn M khởi kiện ông Huỳnh Thanh P về tranh chấp hợp đồng vay mua bán tài sản. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Ông Huỳnh Thanh P cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M thấy rằng:

Vào tháng 11/2023, giữa ông M và ông P có việc thỏa thuận mua bán tivi nhưng các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói mà không lập hợp đồng thể hiện cụ thể số lượng, nhãn hiệu, kích thước, giá cả, thời gian thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án ông M cung cấp vi bằng số 87/2024/VB-TPL của Văn phòng T5 lập ngày 29/01/2024 thể hiện nội dung tin nhắn giữa ông M và ông P trao đổi về việc mua bán tivi. Tại phiên tòa ông P cũng thừa nhận vi bằng đã lập đúng với nội dung các tin nhắn trò chuyện của ông M và ông P. Do đó HĐXX xác định vi bằng là chứng cứ để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Theo vi bằng thể hiện trước đó giữa ông M và ông P thỏa thuận mua 30 cái tivi trong đó 26 cái 65 inch và 04 cái 50 inch, tuy nhiên ngày 24/11/2023, ông M sẽ lắp trước cho ông P 26 cái tivi trong đó 13 cái 65 inch và 13 cái 55 inch nhưng tiến hành đổi thành 65 inch sau 02 tuần. Mặc dù ông P không xác nhận đồng ý nhưng ông P đã đọc tin nhắn của ông M đã gửi định vị quán karaoke nơi lắp đặt tivi thì coi như ông P đã đồng ý với thỏa thuận của ông M.

Ngày 27/11/2023, ông M đã cho người đến quán Karaoke của ông P để lắp đặt nhưng sau khi lắp đặt xong thì ông M không liên hệ được ông P đã được thể hiện qua các tin nhắn giữa ông M và ông P.

Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu ông P thanh toán đối với 32 cái tivi trong đó 04 cái 50 inch, 13 cái 55 inch, 15 cái 65 inch, tất cả hiệu Woolpad.

Tại phiên tòa ông P không đồng ý thanh toán với lý do 02 bên chưa tiến hành nghiệm thu và giao nhận tivi, tivi ông M lắp đặt không đúng kích thước, nhãn hiệu ông yêu cầu và sau khi lắp đặt ông M đã cài ngược tivi nên ông không sử dụng được.

Ngoài vi bằng, các bên không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác nên ngày 20/01/2025, Tòa án tiến hành thẩm định tại quán karaoke của ông P, tại thời điểm thẩm định có tất cả 24 cái vi ti trong đó 12 cái 55 inch hiệu Woolpad, 06 cái tivi 65 inch hiệu Woolpad, 05 cái tivi 65 inch hiệu kuking và 01 cái tivi 65 inch mặt trước không ghi hiệu kuking nhưng mặt sau có dán chữ kuking (không giống với 05 cái tivi 65 inch hiệu kuking). Ông M và ông P thống nhất trong 24 cái tivi thì có 23 cái là do ông M lắp đặt, 01 cái tivi 65 inch mặt trước không ghi hiệu kuking nhưng mặt sau có dán chữ kuking các bên không thống nhất.

Tại phiên tòa đại diện cho ông M cho rằng đã lắp đặt đủ 37 cái tivi cho ông P nhưng nội dung Vi bằng chỉ thể hiện lắp trước 26 cái và thực tế bị đơn chỉ thừa nhận 23 cái như biên bản thẩm định, ông M trình bày nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên chỉ có cơ sở xem xét trên số lượng tivi thực tế còn lại là 23 cái.

Xét thấy:

Tại phiên tòa ông T xác định giữa ông M và ông P thỏa thuận mua bán tivi hiệu Woolpad nên yêu cầu ông P trả lại 05 cái tivi 65 inch hiệu Kuking và được ông P đồng ý nên ghi nhận.

Đối với 12 tivi 55 inch thì 2 bên thỏa thuận sau 02 tuần bên ông M sẽ lắp đổi lại thành tivi 65 inch nhưng chưa thực hiện. Tại phiên tòa ông P xác định không thỏa thuận mua tivi 55 inch, ông M không chứng minh được ông P thỏa thuận mua tivi 55 inch mà do ông M không có đủ tivi nên mới đề nghị lắp đặt tạm thời và tiến hành đổi lại, sau thời hạn 02 tuần ông M cũng không có động thái đổi lại tivi cho ông P nên ông P không nhận hàng và thanh toán cho ông M là phù hợp.

Đối với 06 cái tivi 65 inch hiệu Woolpad ông M đã lắp đặt đúng theo yêu cầu, tuy ông M đã cài đặt theo chế độ ngược và T4 là do phần lỗi của ông P trong việc không hợp tác để giải quyết đơn hàng đo đó ông P phải có trách nhiệm thanh toán tiền cho ông M là phù hợp.

Từ phân tích ở trên cho thấy ông M khởi kiện yêu cầu ông P phải thanh toán 32 cái tivi nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu đối với 06 cái tivi 65 inch hiệu Woolpad.

Các bên xác định giá bán là 9.000.000đ/cái nên buộc ông P phải thanh toàn cho ông M số tiền 6 X 9.000.000đ = 54.000.000đ.

Không chấp nhận yêu cầu đối với 26 cái tivi trong đó bao gồm 04 cái tivi 50 inch giá 6.500.000đ/cái thành tiền 26.000.000đ, 13 cái tivi 55 inch giá 7.500.000đ/cái thành tiền 97.500.000đ, 09 cái 65 inch giá 9.000.000đ/cái thành tiền 81.000.000đ, tổng cộng 204.500.000đ.

Đối với 01 cái tivi 65 inch mặt trước không ghi hiệu kuking nhưng mặt sau có dán chữ kuking, ông P cho rằng tivi của ông M lắp đặt nhưng ông M không thừa nhận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do ông P không chứng minh được tivi do ông M lắp đặt nên không có cơ sở giải quyết.

Tại phiên tòa ông P đồng ý giao trả 17 cái tivi trong đó 12 cái 55 inch hiệu Woolpad và 05 cái tivi 65 inch hiệu Kuking và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên ghi nhận.

Về yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán: Tại phiên tòa đại diện cho ông M rút yêu cầu trả lãi chậm trả. Việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận, đình chỉ yêu cầu trả lãi chậm thanh toán của ông M. Ông M có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí là 2.800.000đ. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên cả nguyên đơn và bị đơn phải chịu 50% chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.400.000đ, nguyên đơn đã tạm nộp nên bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn.

[3]. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là phù hợp nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông Lê Văn M được chấp nhận một phần nên ông Huỳnh Thanh P phải chịu tiền án phí trên số tiền phải hoàn trả cho ông M, ông M phải chịu án phí trên phần không được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều: 35, 39, 217, 219, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 430, 431, 433, 434, 435, 439, 440 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M đối với ông Huỳnh Thanh P về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.

    Buộc ông Huỳnh Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Văn M tổng cộng 54.000.000đồng tiền mua bán tivi.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M đối với ông Huỳnh Thanh P về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” với số tiền mua bán là 204.500.000đ.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M đối với ông Huỳnh Thanh P về tiền lãi chậm thanh toán. Ông M được khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
  4. Buộc ông Huỳnh Thanh P trả lại cho ông Lê Văn M 17 cái tivi trong đó 12 cái 55 inch hiệu Woolpad và 05 cái tivi 65 inch hiệu Kuking.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Huỳnh Thanh P hoàn trả cho ông Lê Văn M số tiền 1.400.000 đồng.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng, ông Huỳnh Thanh P còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Thanh P chịu 2.700.000 đồng. Ông M phải chịu 10.225.000 đồng, khấu trừ 7.902.000 đồng số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008394 ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí, ông M phải nộp thêm 2.323.000 đồng án phí.
  8. Án này xử sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/03/2025).
  9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 27/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn M - Huỳnh Thanh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger