|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HSPT Ngày: 10/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.
Ông Hoàng Trí Thức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 246/2024/HSPT ngày 31/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N và đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn N (tên gọi khác: X), sinh năm 1988 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: tổ F, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Trần Thị S (đã chết); vợ, con: không; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 6 anh chị em.
Tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 103/QĐ-XPHC ngày 10/06/2013, Công an huyện Đ xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn tiền (đã đóng phạt ngày 17/10/2019);
- Tại bản án sơ thẩm số 42/2015/HSST ngày 03/12/2015, Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ tuyên phạt 16 tháng tù về tội cố ý gây thương tích (chấp hành xong án phạt tù ngày 29/08/2016);
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3822/QĐ-XPHC ngày 26/12/2019, Ủy ban nhân dân huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (đã đóng phạt ngày 31/12/2019).
2
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
2. Võ Thị Lệ K (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1971 tại Q; nơi đăng ký thường trú: tổ H đường M, khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: 1 Ô2/73 khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); chồng: Trần Văn Ú, sinh năm 1965, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1997; bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 7 anh em;
Tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
3. Dương Thị T, sinh năm 1995 tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi đăng ký thường trú: 1 Ô2/117 khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết), chồng: Nguyễn Minh T1, sinh năm 1996 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2017;
Tiền án: không, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
4. Phạm Thị Đ1 (tên gọi khác: Năm L), sinh năm 1975 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: 1 Ô khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B (đã chết) và bà Hà Thị Bích V, sinh năm 1949; chồng: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2000; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 6 chị em;
Tiền án: không, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
5. Trần Thị Công T3 (tên gọi khác: G), sinh năm 1974 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: 9 Ô khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công K1 sinh năm 1937 và bà Dương Thị T4 (đã chết); chồng: Nguyễn Văn T5 sinh năm 1972, con: 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1997; gia đình bị cáo có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình;
Tiền án: không, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
3
6. Lê Thị H2 (tên gọi khác: T6), sinh năm 1966 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: 6 Ô khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1 (đã chết); chồng: Ngô Văn D, sinh năm 1965, con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1995; gia đình bị cáo có 8 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình;
Tiền án: không;
Tiền sự: ngày 25/8/2023, Lê Thị H2 bị Công an thị trấn P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (đóng phạt ngày 31/8/2023).
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 14/05/2024, Nguyễn Văn N đi xe ôm từ nhà đến nhà Võ Thị Lệ K ở tổ H, đường M khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mua trái cây. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày có Phạm Thị Đ1, Lê Thị H2, Trần Thị Công T3 và Dương Thị T đến nhà K để đóng tiền hụi. Lúc này, N rủ Đ1, H2, T3, T, K cùng chơi đánh bài “xì dách” ăn thua bằng tiền, tất cả đồng ý. N nói K đi mua bài, sau đó K xuống khu vực bếp lấy 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 cây bài tây (gồm 10 bộ bài), 01 cái đĩa sứ hình tròn màu trắng và 01 tấm bìa giấy màu trắng của mình đưa cho N. N mang dụng cụ vào trong phòng ngủ nhà bà K làm cái bài “xì dách” cho Đ1, H2, T3, T, K đặt cược.
Hình thức chơi bài “xì dách” như sau: Người chơi sử dụng 01 bộ bài tây loại 52 lá, gồm các lá bài từ 2 đến 10, J, Q, K, A. Quy ước các lá bài từ 2 đến 10 tương ứng với số điểm 02 đến 10 điểm; các lá bài J, Q, K được tính là 10 điểm, riêng A gọi là xì có thể tính là 01 điểm, 10 điểm hoặc 11 điểm. Người chia bài là người cầm cái, tỷ lệ thắng thua là 1/1. Nếu người chơi sở hữu xì bàn gồm hai lá bài A hoặc xì lát gồm một lá bài A và một lá bài 10, J, Q, hoặc K bất kỳ thì sẽ lật bài và thắng cược (xì bàn và xì lát được tính bằng nhau). Trường hợp nếu người chơi không có xì bàn hoặc xì lát thì mỗi người chơi được bốc thêm tối đa ba lá bài, tính tổng điểm của các lá bài của người chơi từ 16 điểm đến 21 điểm lớn hơn tổng điểm nhà cái thì người chơi thắng cược; nếu tổng điểm các lá bài của người chơi lớn hơn 21 điểm (gọi là quắc) sẽ thua tiền cho nhà cái và trên 28 điểm thì đền L2 (là phải trả tiền cho tất cả mọi người), trường hợp khi người chơi có năm lá bài với tổng số điểm từ 21 trở
4
xuống gọi là ngũ linh (ngũ linh được tính bằng nhau, không phân biệt lớn nhỏ) người chơi sẽ thắng nhà cái.
Cả nhóm thống nhất N làm cái, N chia bài cho K, Đ1, H2, T và T3 mỗi người hai lá bài, chia bài từ phải qua trái, chia cho N sau cùng, quy định mức đặt cược mỗi ván số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi N chia bài xong số bài còn lại đặt trên cái đĩa để giữa sòng để bốc (bốc từ dưới lên, lần lượt từng nhà con bốc trước, nhà cái bốc sau). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Mã Thị T7 đến nhà K để đóng hụi nên cũng hùn vốn tham gia cá cược và khoảng 30 phút sau, T8 tiếp tục đến đóng hụi và cùng tham gia cá cược. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi N đang chuẩn bị chia ván bài mới thì bị Công an thị trấn P bắt quả tang thu giữ gồm: Số tiền trên chiếu bạc 11.600.000 đồng, thu giữ trên người của T3 số tiền 1.250.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 cây bài tây (gồm 10 bộ bài) chưa qua sử dụng; 01 cái dĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 11,5cm; 01 tấm bìa bằng giấy màu trắng kích thước 109cm x 79cm, riêng Mã Thị Thanh D1 hoảng sợ nên đã cầm theo số tiền 200.000 đồng bỏ chạy về nhà. Đến ngày 15/05/2024, T7 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ làm việc và tự nguyện giao nộp số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 14/5/2024 là 200.000 đồng. Qua đó xác định số tiền đánh bạc cụ thể từng người như sau:
- Nguyễn Văn N đem theo số tiền 4.650.000 đồng để làm cái đánh bài “xì dách”, trực tiếp chung chi tiền thắng thua cho người chơi, N làm cái được khoảng 40 ván, có lúc thắng lúc thua. Tại thời điểm bắt quả tang, toàn bộ tiền đánh bạc của N đều bỏ trên chiếu bạc, tiền trên chiếu bạc thu giữ là 11.600.000 đồng.
- Dương Thị T đem theo số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, T đặt cược khoảng 40 ván mỗi ván đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Thời điểm bị bắt quả tang T thua 1.600.000 đồng, còn 400.000 đồng thu trên chiếu bạc.
- Phạm Thị Đ1 đem theo số tiền 1.500.000 đồng tham gia đánh bạc. Đào đánh khoảng 20 ván, với số tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, có ván thắng ván thua, tại thời điểm bắt quả tang Đ1 thua hết tiền.
- Lê Thị H2 đem theo số tiền 500.000 đồng tham gia đánh bạc. H2 đánh khoảng 15 ván, với số tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, có ván thắng ván thua, tại thời điểm bắt quả tang H2 thua 450.000 đồng, còn 50.000 đồng thu trên chiếu bạc.
- Trần Thị Công T3 đem theo số tiền 1.300.000 đồng tham gia đánh bạc. T3 đánh khoảng 13 ván mỗi ván 50.000 đồng, có ván thắng ván thua, tại thời điểm bắt quả tang T3 thua 50.000 đồng, còn 1.250.000 đồng Trân cất giấu trong túi quần bên trái phía trước bị Công an thu giữ.
5
- Võ Thị Lệ K đem theo số tiền 1.500.000 đồng tham gia đánh bạc. Kiều cá cược khoảng 10 ván, với số tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, có ván thắng ván thua, tại thời điểm bắt quả tang K thua 800.000 đồng, còn 700.000 đồng thu trên chiếu bạc.
- Trương Thị T8 đem theo số tiền 800.000 đồng tham gia đánh bạc. T8 cá cược khoảng 15 ván mỗi ván 50.000 đồng, có ván thắng ván thua, tại thời điểm bắt quả tang T8 thua 500.000 đồng, còn 300.000 đồng thu trên chiếu bạc.
- Mã Thị T7 đem theo số tiền 800.000 đồng tham gia đánh bạc. T7 đánh 06 ván mỗi ván 100.000 đồng đều thua hết tiền, tại thời điểm bị bắt quả tang T7 còn số tiền 200.000 đồng và giao nộp sau đó.
2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 19/9/2024, Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2, Trương Thị T8 và Mã Thị T7 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N 16 (mười sáu) tháng tù;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Võ Thị Lệ K 14 (mười bốn) tháng tù; tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Đ1 08 (tám) tháng tù;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Dương Thị T 10 (mười) tháng tù; tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Đ1 08 (tám) tháng tù; tuyên phạt bị cáo Lê Thị H2 07 (bảy) tháng tù;
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Trương Thị T8 40.000.000 đồng; tuyên phạt bị cáo Mã Thị T7 30.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; tuyên về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 20/9/2024, các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Lê Thị H2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; ngày 25/9/2024 bị cáo Trần Thị Công T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; ngày 02/10/2024 bị cáo Phạm Thị Đ1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về
6
hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Văn N 16 (mười sáu) tháng tù, Võ Thị Lệ K 14 (mười bốn) tháng tù, Dương Thị T 10 (mười) tháng tù, Phạm Thị Đ1 08 (tám) tháng tù, Trần Thị Công T3 08 (tám) tháng tù, Lê Thị H2 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:
Tối ngày 14/5/2024, tại nhà của bị cáo Võ Thị Lệ K tọa lạc tổ H, đường M, khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Trương Thị T8, Mã Thị T7, Lê Thị H2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “xì dách” ăn tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 13.050.000 (mười ba triệu không trăm năm chục ngàn đồng). Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào số tiền đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng và nếp sống văn minh của xã hội. Cờ bạc là tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh ở địa phương ảnh
7
hưởng hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân mà vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Trong vụ án này, ngoài các bị cáo Nguyễn Văn N, Trương Thị T8 có nhân thân xấu (đã từng bị Tòa án tuyên phạt về các tội danh khác nhau), các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” (bị cáo Lê Thị H2 chỉ bị xử phạt hành chính nên cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ nêu trên). Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trương Thị T8 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước nhưng lại tuyên phạt các bị cáo khác có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn là không đảm bảo sự công bằng giữa các bị cáo. Do không thể làm xấu đi tình trạng của bị cáo Trương Thị T8 do vụ án không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử thấy cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt chính là “Phạt tiền” đối với tất cả các bị cáo Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2 để đảm bảo sự công bằng. Riêng bị cáo Nguyễn Văn N có nhiều tiền án, tiền sự nên không có căn cứ để áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nhưng Hội đồng xét xử thấy cũng cần cân đối lại hình phạt của bị cáo cho phù hợp với các bị cáo khác và phù hợp với quy định của pháp luật. Nguyên nhân sửa án không phải do lỗi của Hội đồng xét xử sơ thẩm nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm khi quyết định hình phạt đối với các vụ án có nhiều đồng phạm trong quá trình xét xử.
Vì những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2, sửa bản án sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh
8
Bà Rịa - Vũng Tàu về phần hình phạt đối với các bị cáo;
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2 mỗi bị cáo 35.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Văn N, Võ Thị Lệ K, Dương Thị T, Phạm Thị Đ1, Trần Thị Công T3, Lê Thị H2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thái Hùng |
Bản án số 27/2025/HSPT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 27/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N và đồng phạm - Đánh bạc
