TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-PT
Ngày: 06/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.
Ngày 06/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 290/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 220/2024/HSST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y ( nay là Thành phố B), tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1995; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Luật sư Võ Thị An B, Luật sư Hoàng Thị Bích L - Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ trụ sở: Số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2016, bị cáo Nguyễn Văn T làm công nhân tại công ty V, huyện V (nay là thị xã V). Thời gian làm tại đây, T có quen biết bị cáo Hồ Ngọc L1 thời điểm này đang thuê trọ tại tổ dân phố B, phường T, thị xã V. Đến tháng 4/2017, T không làm việc tại công ty V nữa nhưng vẫn liên lạc với L1. Tháng 3/2024, Nguyễn Văn T và Lương Đức Q ở cùng thôn đến làm công nhân tại Công ty TNHH K (sau đây viết tắt là Công ty K) khu công nghiệp S - Nội Hoàng, địa chỉ tại xã S, thành phố B. Hai người được Công ty K phân công làm công việc vận hành và quản lý máy in lưới số 3 và số 4 xưởng 2 của Công ty K; nguyên liệu để phục vụ cho việc xản xuất in lưới pin là hồ nhũ bạc. Quá trình làm việc tại xưởng, T thấy Công ty K có sơ hở trong quản lý và giám sát nguyên liệu, tại các máy trên dây chuyền đều dư thừa nguyên liệu sản xuất là hồ nhũ bạc nên nảy sinh ý định trộm cắp hồ nhũ bạc mang đi bán. T rủ Q cùng tham gia trộm cắp hồ nhũ bạc của Công ty K thì Q đồng ý. Cuối tháng 3/2024, T và L1 đi uống nước tại quán cafe ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V. Trong lúc ngồi nói chuyện, T nói cho L1 biết hiện nay T đang làm tại bộ phận sản xuất in lưới pin của Công ty K và có ý định sẽ trộm cắp nguyên liệu sản xuất là hồ nhũ bạc để mang ra ngoài bán nhưng không biết nơi tiêu thụ. Bản thân L1 đã từng làm công nhân sản xuất pin năng lượng mặt trời trong khu công nghiệp V nên biết hồ nhũ bạc là nguyên liệu làm bằng bạc có giá trị cao. T nói với L1 mỗi ngày trộm cắp được khoảng từ 01 đến 02 lạng hồ nhũ bạc, sẽ tích trữ lại và nhờ L1 bán thì L1 đồng ý và nói sẽ liên lạc sau. Khoảng 01 tuần sau, T gọi điện thoại cho L1 hỏi thì L1 nói đã tìm được chỗ mua và hứa hẹn sẽ trả cho T số tiền 13.500.000 đồng/01 kg hồ nhũ bạc thì T đồng ý.
Để thực hiện trộm cắp hồ nhũ bạc, T bàn với Q lợi dụng lúc nghỉ giữa ca làm hoặc cuối giờ khi sắp tan ca, thời điểm này công nhân trong bộ phận sẽ đi ăn cơm hoặc thay đồ bảo hộ chuẩn bị ra về nên không có người trong xưởng thì sẽ trộm cắp. Hai người sẽ thay nhau cảnh giới và trộm cắp hồ nhũ bạc tại máy số 3 và máy số 4 trong xưởng 2 của công ty bằng cách đeo găng tay cao su bảo hộ, lấy lọ đựng hồ nhũ bạc trên bàn rồi mở nắp và dùng thìa chuyên dụng múc quyệt vào lòng bàn tay sau đó kéo ngược chiếc găng tay cởi ra để bọc quanh số hồ nhũ bạc rồi buộc đầu găng tay lại; cất chiếc găng tay bên trong đựng hồ nhũ bạc trong túi hoặc ống tay của áo bảo hộ. Sau khi trộm cắp xong sẽ tìm thời điểm để vào nhà vệ sinh và đút số nhũ bạc đó vào túi quần bên trong quần bảo hộ chờ hết giờ làm việc thì mang ra ngoài công ty để T đem về nhà T cất giấu, khi nào lấy được nhiều sẽ đưa cho L1 để đem đi bán. Bằng phương thức như trên từ ngày 05/4/2024 đến 24/4/2024, T và Q hàng ngày trộm cắp được từ 01 đến 02 lạng hồ nhũ bạc tại máy số 3 và máy số 4 xưởng 2 của Công ty K rồi T đem về nhà cất giấu. Thỉnh thoảng, T nhắn tin, gọi điện thông báo cho L1 biết việc trộm cắp nên L1 cũng biết Q tham gia cùng T trộm cắp hồ nhũ bạc của Công ty K.
Buổi chiều ngày 25/4/2024, T cân kiểm tra số hồ nhũ bạc đã trộm cắp rồi gọi điện cho L1 thông báo đã trộm cắp được khoảng 06 kg hồ nhũ bạc và bảo L1 đi bán. Lúc này, L1 đang chơi bi-a tại quán B1 ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V cùng với Vi Văn C. L1 hẹn T cầm hồ nhũ bạc đi đến quán B1 để giao. T lấy 01 túi nilon màu đen đựng toàn bộ số găng tay chứa hồ nhũ bạc đã trộm cắp rồi thuê anh Nguyễn Văn
L2 ở cùng thôn là lái xe taxi đưa từ nhà đến quán B1 gặp L1 trên tầng 2 đang chơi bi-a. L1 hỏi mượn C chiếc xe ô tô BKS 98C-298.72 và đưa chìa khóa xe ô tô cho T dặn mở cửa và để hồ nhũ bạc vào trong xe. T đi xuống mở cửa xe và đặt túi bóng đựng hồ nhũ bạc vào hàng ghế sau xe ô tô rồi đóng cửa lại và lên chơi bi-a. Khoảng 30 phút sau, C không chơi bi-a nữa và đi bộ ra ngoài có việc. T và L1 chơi bi-a đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì đi uống bia. T điều khiển xe ô tô của C chở L1 đến quán bia ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V; khi ngồi trên xe T có nói cho L1 biết hồ nhũ bạc đựng trong túi bóng đen để ở ghế sau xe. Một lúc sau, C đi đến uống bia cùng. Sau khi uống bia xong, C lái xe chở L1 và T về khu nhà trọ của L1 ở tổ dân phố B, phường T, thị xã V. Khi đến phòng trọ, L1 xuống xe còn T ngồi trên xe, kéo cửa kính xuống và đưa cho L1 túi nilon màu đen bên trong chứa hồ nhũ bạc. Sau đó, C đưa T đến khu vực cây xăng phường T để thuê taxi đi về nhà. Buổi sáng ngày 26/4/2024, L1 kiểm tra túi nilon mà T đưa cho thì thấy có nhiều găng tay cao su y tế bên trong chứa hồ nhũ bạc. L1 buộc túi lại và cất giấu trong phòng trọ. Sáng hôm sau, T gọi điện cho L1 hỏi thì L1 nói chưa bán được. T bảo L1 cho ứng tiền để chia cho Q chi tiêu dịp nghỉ lễ 30/4 thì L1 đồng ý và hẹn gặp nhau tại nhà văn hóa tổ dân phố B2. Khoảng hơn 07 giờ cùng ngày, T đi xe mô tô BKS 98G1-158.54 đến gặp L1 tại điểm hẹn. Hai người thống nhất giá hồ nhũ bạc là 13.500.000 đồng/01 kg, tổng số 06 kg thành tiền là 81.000.000 đồng. L1 trừ đi số lượng hồ nhũ bạc trên găng tay bọc bên ngoài là 3.000.000 đồng; còn lại phải thanh toán là 78.000.000 đồng. L1 đưa cho T 51.000.000 đồng tiền mặt, còn trừ nợ 27.000.000 đồng là số tiền mà T còn nợ L1 trước đó. T cầm tiền rồi đi xe máy đến Công ty K đón Q tan làm ca đêm về. Trên đường về, T nói cho Q biết đã bán số hồ nhũ bạc trộm cắp được 78.000.000 đồng. T và Q bỏ ra 8.000.000 đồng để ăn uống và đổ xăng xe, còn lại sẽ chia đều. T đưa cho Q 20.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 còn lại thì T trừ vào số tiền mà Q đã vay của T trước đó. Khi về đến nhà, T đưa cho mẹ đẻ là Nguyễn Thị H1 số tiền 10.000.000 đồng; đưa cho vợ là Nguyễn Thị T2 số tiền 5.000.000 đồng nhưng không nói cho bà H1 và chị T2 về nguồn gốc tiền.
Ngày 27/4/2024, Công ty K phát hiện hồ nhũ bạc bị hao hụt bất thường tại máy số 3 và máy số 4 xưởng 2; trong đó từ ngày 05/4/2024 đến 24/4/2024 bị mất tổng số 3,958kg hồ nhũ bạc tại máy 3 và bị mất 2,033kg hồ nhũ bạc tại máy 4; tổng số hồ nhũ bạc bị mất là 5,991kg. Công ty K kiểm tra camera phát hiện T và Q trộm cắp hồ nhũ bạc nên làm đơn trình báo. Ngày 28/4/2024, T và Q đầu thú; ngày 19/7/2024 L1 đến Công an thành phố B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã tạm giữ của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 10 Pro + 5G vỏ màu vàng gắn sim số 0858.262.686 và số 0382.688.466; xe mô tô Honda SH 125i, biển số 98G1-158.54 và số tiền 6.530.000 đồng. Tạm giữ của Lương Đức Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 vỏ màu đen, gắn sim số 0325.500.843 và số tiền 10.300.000 đồng. Tạm giữ của Hồ Ngọc L1: 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, gắn sim số 0382.603.558.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T, Lương Đức Q không thu giữ đồ vật, tài sản gì; khám xét nơi ở của Hồ Ngọc L1 tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max vỏ màu xanh, gắn sim số 0985.151.383.
Cơ quan điều tra yêu cầu định giá 5,991kg hồ nhũ bạc mà các bị cáo trộm cắp. Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐ ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 5,991kg hồ nhũ bạc, chưa qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tháng 4/2024 là 100.602.813 đồng. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định 05 file video thu tại camera an ninh của Công ty K và 06 file video thu tại quán B1 ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án. Kết luận giám định số 1310/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 11 file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định. 2. Trích xuất được 46 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định”.
Cơ quan điều tra cho bị cáo T, Q quan sát các file video và hình ảnh trích xuất từ các file video thu giữ tại Công ty K. Kết quả các bị cáo đều xác nhận có hình ảnh của mình thực hiện hành vi trộm cắp hồ nhũ bạc tại máy 3, máy 4 xưởng 2 như đã khai. Ngày 06/5/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn T và Lương Đức Q xác định địa điểm trộm cắp và thực nghiệm hành vi trộm cắp hồ nhũ bạc tại hiện trường của Công ty K. Kết quả 02 bị cáo xác định vị trí trộm cắp hồ nhũ bạc ở máy 3 và máy 4 khu vực chuyền 1, chuyền 2, xưởng 2, bộ phận pin công đoạn in lưới Công ty K. Các bị cáo thực hiện các động tác lấy găng tay bảo hộ đeo vào tay, lấy hộp đựng nhũ bạc mở nắp dùng thìa chuyên dụng quệt vào lòng bàn tay rồi kéo ngược găng tay rút ra và buộc lại cất giấu vào trong áo bảo hộ.
Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn T, Hồ Ngọc L1 xác định địa điểm giao hồ nhũ bạc, địa điểm giao nhận tiền và thực nghiệm điều tra. T xác định địa điểm giao túi hồ nhũ bạc cho L1 là trên xe ô tô trước cửa quán B1; địa điểm L1 đưa tiền là trước sân nhà văn hóa tổ dân phố B2, phường T, thị xã V. Bị cáo L1 xác định vị trí trước cửa nhà L1 thuê trọ là nơi T ngồi trong xe ô tô đưa cho L1 túi hồ nhũ bạc sau đó L1 đem vào phòng trọ cất giấu. T và L1 thực hiện thuần thục giao, nhận túi chứa hồ nhũ bạc và giao nhận tiền như đã khai. Cơ quan điều tra cho Hồ Ngọc L1 quan sát bản ảnh chụp hồ nhũ bạc thực tế tại Công ty K. Kết quả L1 khẳng định loại hồ nhũ bạc chụp tại Công ty K giống với loại hồ nhũ bạc mà T đưa cho L1 để bán; L1 quan sát bản ảnh trích xuất từ camera quán B1 xác định có hình ảnh T đi vào quán sau đó lên tầng 2 gặp L1 và được L1 đưa cho chìa khóa ô tô để mở cửa xe cất túi hồ nhũ bạc ngày 25/4/2024.
Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn T và Hồ Ngọc L1 nhận dạng ảnh của nhau. Kết quả các bị cáo đều nhận đúng ảnh và xác định T trộm cắp hồ nhũ bạc tại Công ty K và đưa cho L1 để bán vào ngày 25/4/2024 tại trước cửa quán B1, phường N, thị xã V.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 của Lương Đức Q thấy tại mục tin nhắn zalo và mesenger có nhiều cuộc gọi, tin nhắn với tài khoản của Nguyễn
Văn T có nội dung liên quan đến việc trộm cắp tài sản và đem hàng cho L1 để ứng tiền chi tiêu ngày lễ 30/4. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Realme 10 Pro+5G của Nguyễn Văn T tại mục tin nhắn zalo có nhiều cuộc gọi, tin nhắn với tài khoản zalo của Hồ Ngọc L1 và của Lương Đức Q có nội dung liên quan đến việc trộm cắp tài sản; nội dung T nhắn cho L1 hàng được 06 kg và thỏa thuận giá là 13.500.000 đồng/kg. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA và điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max của Hồ Ngọc L1 không phát hiện vi phạm pháp luật. L1 khai sử dụng điện thoại Iphone12 ProMax để liên lạc với T về việc trộm cắp nhũ bạc tại công ty K, sau khi biết T bị bắt thì L1 đã xóa toàn bộ nhật ký cuộc gọi và tin nhắn trong điện thoại.
Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Thọ, Lương Đức Q và Hồ Ngọc L1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 220/2024/HSST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 02 bị cáo khác, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 04/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung kháng cáo xin hưởng án treo.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà: Bị cáo và luật sư giao nộp thêm một số tài liệu mới gồm: 01 đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của đại diện bị hại, 01 hóa đơn nộp tiền phạt bổ sung và án phí của bản án sơ thẩm, 01 giấy xác nhận về việc bị cáo đã ủng hộ Ban phòng chống Covit năm 2021 với tổng số khẩu trang trị giá 3.000.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền mặt, một Huy chương kháng chiến hạng nhì của ông nội là ông Nguyễn Văn L3 trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc.
Bị cáo T thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “ trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai gì.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình
sự 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã xử, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo tại phiên tòa. (trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác). Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Luật sư trình bày: Luật sư nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, nhưng xác định việc bị cáo T cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội là trộm cắp hồ nhũ bạc nhiều lần, nhưng mỗi lần trộm cắp đó chỉ đủ định lượng theo quy định thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tự nguyện khắc phục hậu quả đầy đủ cho bị hại, hơn nữa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ở cấp phúc thẩm bị cáo đã cùng gia định cung cấp thêm một số tài liệu mới để làm căn cứ cho việc kháng cáo để xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và áp dụng cho bị cáo được hưởng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm...
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai gì, bị cáo nhận thức rõ được hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật và tỏ ra rất ăn năn hối cải và xin được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa sai phạm, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T và Lương Đức Q là công nhân Công ty TNHH K2 năng lượng mặt trời BOVIET thuộc khu công nghiệp S - N, xã S, thành phố B. Hai bị cáo bàn với nhau, thống nhất cùng trộm cắp hồ nhũ bạc của Công ty K để bán lấy tiền. Sau đó, T bàn bạc với Hồ Ngọc L1 về việc T và Q sẽ trộm cắp hồ nhũ bạc của Công ty K rồi đưa cho L1 đi bán thì L1 đồng ý. Từ ngày 05/4/2024 đến 24/4/2024, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty B3, T và Q cùng nhau có hành vi lén lút trộm cắp mỗi ngày ít nhất 100 gam, nhiều nhất từ 300 gam đến 400 gam hồ nhũ bạc tại máy số 3 và máy số 4 xưởng 2 của Công ty K rồi T đem về nhà cất giấu. Hai bị cáo (T, Q) đã trộm cắp được tổng số 5,991kg hồ nhũ bạc trị giá 100.602.813 đồng. Ngày 25/4/2024, T bán cho L1 toàn bộ số hồ nhũ bạc này với giá 78.000.000 đồng sau đó chia cho Q một nửa số tiền trên. Các bị cáo đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo (T, Q, L1) đã có đủ yếu tố cấu
thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 220/2024/HSST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, theo bản kết luận điều tra, các tài liệu có trong hồ sơ và bản cáo trạng truy tố không đánh giá đầy đủ về việc các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng thực tế các lần phạm tội đều dưới 50 triệu đồng, do vậy các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng chỉ thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Xét thấy: Tại cấp phúc thẩm, Bị cáo T giao nộp thêm tài liệu mới gồm: 01 đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của đại diện bị hại, 01 Biên lai thu tiền phạt bổ sung 5.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí của bản án sơ thẩm, 01 giấy xác nhận về việc bị cáo đã ủng hộ Ban phòng chống Covit năm 2021 với tổng số khẩu trang trị giá 3.000.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền mặt, 01 Huy chương kháng chiến hạng nhì của ông nội là ông Nguyễn Văn L3 trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã chủ động nộp tiền phạt bổ sung và án phí là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, đồng thời bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Do vậy, cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 220/2024/HSST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 06/3/2025.
(trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị giam về một tội phạm khác).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
(Xác nhận bị cáo T đã nộp đủ 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) tiền phạt bổ sung và 200.000 đồng tiền án phí sơ thẩm theo Biên lai thu số 0000412 ngày 19/02/2025 của Chi cục THADS thành phố B).
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Thị Hà Ngọ Thị Thanh Hảo | Đặng Văn Quyết |
Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 27/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
