TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H (tên gọi khác: không); sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: không; là con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng H1 (đã chết); vợ Đặng Thị Dương K, sinh năm 1999; có 01 người con tên Lê Đăng K1 sinh năm: 2019; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Bà Nguyễn Hoàng C, sinh năm 2004; Nơi thường trú: 56 Đường số I, Phường D, Quận D, Tp .; Nơi cư trú: 9 đường P, phường T, Quận G, Tp .. Có đơn đề nghị vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Trần Hải N, sinh năm 2001; Nơi thường trú: B N, khu phố T, phường D, Thành phố D, Tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: 1 N, khu phố B, phường A, thành phố D, Tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
- - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm1993; Nơi thường trú: ấp L, xã L, huyện B, Tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: khu phố L, phường T, thị xã T, Tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- - Ông Nguyễn Văn Nè E, sinh năm 2000; Nơi thường trú: Ấp P, xã K, huyện C, Tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khu phố L, phường G, thị xã T, Tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- - Ông Nguyễn Văn Cường E1, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Ấp P, xã K, huyện C, Tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khu phố L, phường G, thị xã T, Tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/9/2024, Lê Văn H được anh T1 thuê làm công nhân tại địa chỉ 9 P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 4 giờ ngày 24/9/2024, H thức dậy đi vệ sinh thì phát hiện xe Vision biển số 59C3-080.38 của Nguyễn Hoàng C, để trong nhà, có chìa khóa xe ở hộc bên trái của xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, H mở máy xe rồi điều khiển xe tẩu thoát về nhà vợ tại địa chỉ 3 ấp B, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trộm được tài sản, H vào ứng dụng Facebook, vào trang "Hội xe không giấy tờ" thì thấy có tài khoản Vương Gia đăng tin nội dung "Thu mua xe không giấy tại S và Bình Dương" do Trần Hải N làm chủ tài khoản. Hóa và N thống nhất giá chiếc xe là 8.000.000 đồng. Khoảng 11 giờ 40 ngày 24/9/2024, H điều khiển xe Vision đen xám biển số 59C3-080.38 đến trước số C N, Quận A, gặp N. N hỏi H về nguồn gốc xe thì H nói xe được mua một tháng và khi mua xe cũng không có giấy tờ. N sử dụng tài khoản ngân hàng T2 số 19038096522019 chuyển 7.900.000 đồng vào tài khoản 8880823510 do H đứng tên chủ tài khoản. Sau khi mua được xe N tiếp tục bán lại xe cho Nguyễn Văn L với giá 10.200.000 đồng, mua được xe Lớn đã đem xe sang campuchia bán cho một người chưa rõ nhân thân lai lịch với giá 11.000.000 đồng. Số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết. Đến 17 giờ ngày 24/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra mời Hóa về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q Hóa khai hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 302/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision 59C3-08038, màu đen xám, trị giá 19.670.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số Imei 1 : 352048882713228, số Imei2: 352048882749347, là điện thoại Lớn dùng để liên lạc, Trần Hải N, Nguyễn Văn C1 Em, Nguyễn Văn N1 Em và liên hệ bán xe cho đối tượng campuchia.
- 01 điện thoại hiệu Oppo A54, màu xanh đen là điện thoại C1 Em dùng để liên lạc với Nguyễn Văn L và Trần Hải N.
- 01 điện thoại hiệu Vivo V32E, màu xanh là điện thoại N dùng để liên lạc với Lê Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Cường E1.
- 01 điện thoại Samsung galaxy J2 màu xanh, là điện thoại Hóa dùng để nhắn tin mua bán với N.
- 01 nón kết màu đen, 01 áo thun xám, 01 đôi dép kẹp, 01 quần jean ngắn là trang phục Hóa mặc khi đi trộm cắp tài sản.
Về dân sự: Bà Nguyễn Hoàng C yêu cầu Lê Văn H bồi thường thiệt hại số tiền 19.670.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm bảy mươi nghìn).
Bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-Q7 ngày 03/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Lê Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Hoàng C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N2, ông Trần Hải N, Nguyễn Văn Cường E1, Nguyễn Văn Nè E đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; tuy nhiên lời khai của họ đã được thể hiện tại hồ sơ vụ án. Bà Nguyễn Hoàng C có đơn đề nghị vắng mặt. Xét việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, không bị bức cung và nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai cho bị cáo. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Khoảng 04 giờ ngày 24/9/2024, tại địa chỉ 9 P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision biển kiểm soát số 59C3-080.38 của bà Nguyễn Hoàng C2 cứ kết luận định giá tài sản số 302/KL-HĐĐGTS thì tài sản có giá trị 19.670.000 đồng, tội phạm đã hoàn thành.
Do đó, Cáo trạng số 12/CT-VKSQ7 ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố H đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo
là cố ý, táo bạo và liều lĩnh, xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Bị cáo H đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc trông coi, quản lý tài sản của mình, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nguy hiểm, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
quá trình điều tra người bị hại bà Phạm Hoàng C3 đề nghị bị cáo Lê Văn H bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe số tiền 19.670.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý sẽ bồi thường cho bà C3. Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo H phải bồi thường cho bà C3 ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số Imei 1 : 352048882713228, số Imei2 : 352048882749347, là điện thoại Lớn dùng để liên lạc, Trần Hải N, Nguyễn Văn C1 Em, Nguyễn Văn N1 Em và liên hệ bán xe cho đối tượng Campuchia nhưng không phải vật chứng vụ án nên trả lại lại cho L.
- 01 điện thoại hiệu Oppo A54, màu xanh đen là điện thoại C1 Em dùng để liên lạc với Nguyễn Văn L và Trần Hải N không phải vật chứng vụ án nên trả lại cho Nguyễn Văn C1 Em.
- 01 điện thoại hiệu Vivo V32E, màu xanh là điện thoại N dùng để liên lạc với Lê Văn H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn C1 Em không phải là vật chứng của vụ án nên trả lại cho Trần Hải N.
- 01 điện thoại Samsung galaxy J2 màu xanh, là điện thoại Hóa dùng để nhắn tin mua bán với N, là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
- 01 nón kết màu đen, 01 áo thun xám, một đôi dép kẹp, 01 quần jean ngắn là trang phục Hóa mặc khi đi trộm cắp tài sản, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:
Đối với Trần Hải N khi mua xe của Lê Văn H không biết xe do H trộm cắp mà có, H cũng không nói. Nguyễn Văn L khi mua xe lại từ N cũng không biết xe do trộm cắp mà có, N chỉ nói xe không có giấy tờ. Nguyễn Văn Cường E1 và Nguyễn Văn N1 Em được H thuê đi lấy chiếc xe trên nên cũng không biết chiếc xe trên do H trộm cắp mà có. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chưa có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”,
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Lê Văn H phải bồi thường cho bà Nguyễn Hoàng C4 19.670.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm bảy mươi) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền bị cáo phải bồi thường nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Samsung galaxy J2 màu xanh; số Imei 1:354802093627173; số Imei 2: 354803093627171;
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 nón kết màu đen, 01 áo thun xám, một đôi dép kẹp, 01 quần jean ngắn;
- Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 điện thoại hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số Imei 1 : 352048882713228, số Imei 2 : 352048882749347;
- Trả lại cho Trần Hải N 01 điện thoại hiệu Vivo V32E, màu xanh;
- Trả lại cho Nguyễn Văn C1 Em 01 điện thoại hiệu Oppo A54, màu xanh đen;
(Theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng tài sản số 057 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
Về án phí:
Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 983.500 đồng
Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 10/2025/TB-TA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Quận 7, ngày 09 tháng 4 năm 2025 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 44, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Về nội dung:
Dòng 12 từ dưới lên của trang 05 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“ Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) tù...”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“ Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù......”
Phần được sửa chữa, bổ sung là một phần của nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm tù
