Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28-02-2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Trưởng;

Ông Trần Quý Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 28/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/12/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1988;

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Ông Tạ Quang T, sinh năm 1991;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai;

Nơi ở hiện tại: Hiện đang chấp hành án tại Phân trại 02, Trại giam K – Bộ C.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương trình bày:

Về hôn nhân: Vợ chồng bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum vào ngày 30/3/2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016, hiện đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2019, nguyên nhân là do ông T nghiện ngập, gái gú, không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Tháng 5 năm 2023, do mâu thuẫn quá lớn, bà và ông T không thể sống chung được nữa nên bà dẫn 02 con ra ngoài thuê nhà ở, hiện nay 3 mẹ con vẫn ở tại tỉnh Gia Lai. Đến khoảng tháng 7 năm 2023, bà nghe người bên nhà chồng báo tin là ông T bị bắt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị Toà án tuyên phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù, sau đó ông T đi chấp hành án ở Trại giam K – Bộ C. Từ ngày ông T đi chấp hành án, bà vẫn thường xuyên đi thăm hỏi, động viên ông T, nhưng chỉ vì tình nghĩa chứ tình cảm vợ chồng không còn. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Quang T.

Về con chung: Bà yêu cầu nuôi con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016; khi ly hôn bà tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Tạ Quang T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/12/2024 và các lời khai tiếp theo, bị đơn Ông Tạ Quang T trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016, hiện con đang được bà P nuôi dưỡng ổn định. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2023, nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế gia đình không ổn định, lúc đó ông không đi làm được nên không có thu nhập. Đến tháng 05/2023, ông và bà P ly thân, bà P dẫn 02 con ra ngoài ở. Tháng 9 năm 2023, ông đi chấp hành án ở Trại giam K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cộng với tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, hiện tại ông còn 09 tháng nữa là chấp hành xong hình phạt. Khi ông đi chấp hành án thì bà P và 02 con lên thăm ông được 01 lần, sau đó thì không liên lạc nữa nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay bà P yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung: Ông đồng ý giao 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Tạ Quang T.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016 cho bà Nguyễn Thị P tiếp tục nuôi dưỡng; ông Tạ Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P có đơn yêu cầu ly hôn ông Tạ Quang T. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Tạ Quang T là phạm nhân hiện đang chấp hành án tại Phân trại 02, Trại giam K – Bộ C thuộc xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân:Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum vào ngày 30/3/2012 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Kết quả đã sinh ra 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng bà P, ông T thường xuyên xảy ra xung đột, bất hòa. Bà P cho rằng ông T nghiện ngập, gái gú, không lo làm ăn; còn ông T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng ông là do kinh tế gia đình không ổn định, lúc đó ông không đi làm được nên không có thu nhập. Mâu thuẫn đó kéo dài cho đến tháng 5/2023 thì vợ chồng ly thân, bà P dẫn các con ra ngoài ở cho đến nay.

Nay bà Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà P, ông T đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà P, ông T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung:Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T có 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016. Hiện con đang được bà P nuôi dưỡng ổn định; ông T cũng đồng ý giao con cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/12/2024, cháu G và cháu V đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà P. Nên giao con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con:Nguyễn Thị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung:Nguyễn Thị P và ông Tạ Quang T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí:Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Nguyễn Thị P được ly hôn ông Tạ Quang T.

  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Tạ Nguyễn Hương G, sinh ngày 28/10/2010 và Tạ Tuấn V, sinh ngày 17/9/2016 cho bà Nguyễn Thị P tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Tạ Quang T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số 0004842, ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Các bên đương sự,
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND TT Plei Kần, H. Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum;
  • - Trại giam Kim Sơn;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn 1, xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. - Bị đơn: Ông Tạ Quang Tuyên, sinh năm 1991; Nơi đăng ký thường trú: Thôn 1, xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Nơi ở hiện tại: Hiện đang chấp hành án tại Phân trại 02, Trại giam Kim Sơn – Bộ Công an
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger