Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/02/2025

V/v Xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Ka

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiệt

Bà Trần Thị Tuyết Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 606/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị đơn: Anh Lương Lý Gia L, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2024 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:

Qua quen biết chị N và anh L1 Lý Gia L có tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 02, ngày 18/01/2024 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Chị N với anh L quen biết nhưng không tìm hiểu kỹ và ảnh hưởng văn hóa vùng miền nên anh chị thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, tính cách chị N và anh L khác biệt nhau, từ lúc chuẩn bị đám cưới anh chị cũng không thống nhất quan điểm với nhau. Chị N đã cố gắng hòa giải để gia đình được yên ấm nhưng không được. Sau khi cưới nhau anh L cũng không đi làm để lo cho gia đình mà một mình chị N phải lo toan hết. Chị N và anh L đã ly thân từ tháng 9/2024 đến nay, từ lúc ly thân anh L cũng không có biện pháp hàn gắn hôn nhân với chị.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Lý Gia L

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Lương Ngọc Linh Đ, sinh ngày 16/9/2023. Hiện cháu Đ đang sống chung với chị N, khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lương Lý Gia L vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

Ngày 10/01/2025 chị Nguyễn Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt, chị N vẫn bảo lưu ý kiến tại Đơn khởi kiện đã nộp cho Tòa án.

Tại phiên tòa anh L1 Lý Gia L trình bày: Anh L thừa nhận giữa anh L và chị N có những khác biệt không thể dung hòa được nhưng anh vẫn muốn hàn gắn với chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Ngọc N và anh L1 Lý Gia Lâm chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 02, ngày 18/01/2024 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N: Chị N trình bày trong thời gian chung sống chị và anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L không quan tâm chăm sóc gia đình, mỗi người tự lo cho bản thân của mình, sự khác biệt văn hóa vùng miền nên anh chị không hiểu nhau và cũng không dung hòa tính cách với nhau được, chị đã cố gắng khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, hai anh chị đã ly thân từ tháng 09/2024 đến nay.

Xét thấy chị N và anh L đã ly thân từ tháng 09/2024 đến nay nhưng cả hai đều không có biện pháp hàn gắn hôn nhân. Tại phiên tòa anh L cũng thừa nhận anh và chị N có mâu thuẫn với nhau trong hôn nhân nên không còn chung sống với nhau nữa. Chị N xác định không còn tình cảm với anh L và kiên quyết ly hôn, chị và anh L cũng không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng nên việc chị N yêu cầu ly hôn với anh L là có cơ sở. Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh L.

[4] Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lương Ngọc Linh Đ, sinh ngày 16/9/2023. Xét cháu Đ đã được chị N chăm sóc và nuôi dưỡng từ thời điểm chị N và anh Lâm ly T đến nay. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu Đ, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đ cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc N.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc N được ly hôn với anh Lương Lý Gia L.
  2. Về con chung: Giao cháu Lương Ngọc Linh Đ, sinh ngày 16/9/2023 cho chị Nguyễn Thị Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lương Lý Gia L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001708 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị N đã nộp xong.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: 02;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Long Hồ: 02;
  • - Đương sự: 02;
  • - Ủy ban nhân dân xã B, huyện Long Hồ,tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Mai Ka

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc N. 1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc N được ly hôn với anh Lương Lý Gia L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger