|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 26-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mai
- Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 268/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1103/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025; Thông báo thay đổi ngày xét xử số 107/TB-TA ngày 19 / 02 /2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã L, huyện A (nay là phường L, quận A), thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn L, xã A, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Ngô Thị Q và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 09/01/2024; tạm giam ngày 18/01/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 29/01/2024; có mặt.
-
Ngô Văn T1, sinh năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T2 (đã chết) và bà Trương Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Oanh K; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/01/2024; thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/01/2024; tạm giữ ngày 23/7/2024 (Theo Quyết định tạm giữ số160/QĐ-ANĐT-Đ1 ngày 23/7/2024 của Công an tỉnh N); tạm giam ngày 26/7/2024 (Theo Lệnh tạm giam số 33/LTG-ANĐT- Đ1 ngày 25/7/2024 của Công an tỉnh N); thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo Lĩnh” từ ngày 18/12/2024 (Theo Quyết định về việc bảo lĩnh số: 352/QĐ - ANĐT - Đ1 ngày 17/12/2024 của Công an tỉnh N); có mặt.
-
Chu Đức C1, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức L (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1; có vợ là Bùi Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/4/2024; có mặt.
-
Nguyễn Kim B, sinh năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: 9/227 đường E mới, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: E đường E mới, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Kim B1 và bà Phạm Thị B2; có vợ là Phạm Thị Thanh M2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/4/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ ngày 09/01/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát kinh tế Công an quận L, Hải Phòng là nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn M có hành vi mua bán trái phép hóa đơn tại quán café "Mây Tropical” thuộc địa bàn phường V, quận L, Hải Phòng (đối diện cổng G Trung tâm Thương mại A). Thu giữ của M 12 tờ hóa đơn đã ghi nội dung, trong đó có 06 hóa đơn của Công ty trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt là Công ty X); 06 hóa đơn của Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 (viết tắt Công ty T9); 04 hợp đồng nguyên tắc; 12.800.000 đồng; 02 điện thoại di động; 01 ô tô BKS 15A – 794.88. Ngoài ra, M tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 dấu tròn của Công ty X, 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn T5.
Quá trình điều tra xác định: Tháng 8/2023, Ngô Văn T1 nảy sinh ý định mua bán trái phép hóa đơn (hóa đơn khống) để kiếm lời. Thực hiện ý định, T1 đã lên mạng tìm mua công ty và được một người nữ giới tên L1 (chưa rõ lai lịch) liên lạc giới thiệu liên hệ với một người nam giới (chưa rõ lai lịch). T1 liên lạc với người nam giới này và thỏa thuận mua 02 công ty gồm Công ty TNHH X, MST: 2400970084 (Công ty X), Công ty TNHH T9, MST: 2400970077 (Công ty T9) với giá 254.000.000 đồng. Khi gặp nhau giao dịch, người nam giới giao cho T1 02 giấy đăng ký kinh doanh, 02 dấu tròn, 02 dấu chức danh giám đốc, 02 token (thiết bị ký chữ ký số), 01 điện thoại di động có sim cài đặt sẵn tài khoản ngân hàng của Công ty X, Công ty T9, còn T1 giao cho người nam giới 254.000.000 đồng. Để hoạt động mua bán trái phép hóa đơn, T1 thuê L1 làm kế toán và trả lương 10.000.000 đồng/tháng, giao Nguyễn Văn M và L1 tìm khách hàng. Mấm và L1 được hưởng lợi số tiền chênh lệch khi bán hóa đơn. T1 thu tiền bán trái phép hóa đơn từ M và L1 với giá bằng 2% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế), còn M bán hóa đơn cho khách với giá 2,2% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế). Mấm chủ yếu tìm khách hàng thông qua một người nữ giới tên H (chưa rõ lai lịch), Hiện chưa xác định được L1 bán trái phép hóa đơn và hưởng lợi thế nào.
Phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội của các đối tượng: Khi có khách hàng mua hóa đơn, M và L1 gửi cho T1 các thông tin khống cần thể hiện trên hóa đơn (tên công ty, loại, đặc điểm, số lượng hàng hóa, dịch vụ, giá tiền...) theo yêu cầu của khách hàng để T1 theo dõi. T1 giao cho L1 lập các hóa đơn điện tử (bản nháp) theo các thông tin này và gửi lại cho khách hàng kiểm tra, nếu khách hàng đồng ý thì T1 sẽ dùng token kết nối vào máy tính của T1 và sử dụng ứng dụng Ultraview để L1 điều khiển từ xa máy tính xuất hóa đơn có chữ ký số rồi gửi cho khách hàng. Để che giấu cơ quan chức năng, Trường hợp thức các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ và chứng từ thanh toán tiền, cụ thể: T1 giao cho L1 tìm mua hóa đơn đầu vào cho công ty X, V với giá bằng 1,8% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế), số lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng với số lượng hàng hóa, dịch vụ khách yêu cầu ghi trên hóa đơn; khi khách hàng chuyển tiền (tổng số tiền ghi trên hóa đơn) vào tài khoản ngân hàng số 2400970084 mở tại ngân hàng B3 của công ty X và tài khoản ngân hàng số 2400970077 mở tại ngân hàng B3 của công ty T9, T1 sẽ chuyển lại số tiền này vào tài khoản của khách hàng (do M và L1 cung cấp) thông qua một tài khoản trung gian số 63218886 mở tại ngân hàng M3 mang tên Phùng Văn C2 do T1 quản lý. Khi bán hóa đơn, T1 yêu cầu M, L1 thu tiền tạm ứng của khách hàng (số tiền này không cố định là bao nhiêu, tùy theo M và L1 yêu cầu) để chuyển cho T1. Đến cuối kỳ kê khai thuế, L1 và M phải thu hết số tiền bán trái phép hóa đơn còn lại chuyển cho T1. L1, M giữ lại số tiền chênh lệch từ việc mua bán hóa đơn để hưởng lợi. Để liên lạc, trao đổi thông tin, T1 liên hệ với M và L1 qua ứng dụng telegram.
Từ tháng 12/2023, M và L1 đã môi giới cho T1 bán trái phép được nhiều tờ hóa đơn ghi khống nội dung. Đến khoảng đầu tháng 01/2024, một khách hàng là nam giới tên T6 (chưa rõ lai lịch) liên lạc với M qua Z hỏi mua hóa đơn khống. Do là khách hàng mới nên M thỏa thuận và thống nhất bán hóa đơn với giá bằng 3% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế). T6 gửi cho M các thông tin cần in trên hóa đơn gồm tên công ty M4 là Công ty TNHH T10, hàng hóa là đất, cát, tổng giá tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa tính thuế là 9.120.592.000 đồng. Với phương thức hoạt động phạm tội như nêu ở trên, T1 sử dụng công ty X xuất 07 tờ hóa đơn ghi nội dung, có chữ ký số; sử dụng công ty T9 xuất 06 tờ hóa đơn ghi nội dung, có chữ ký số gửi cho M ( Tổng là 13 tờ hóa đơn). Sau đó M hẹn T6 sáng ngày 09/01/2024 gặp nhau ở quán café “Mây Tropical”, địa chỉ: phường V, quận L, TP Hải Phòng để giao dịch. Vào hồi 09h ngày 09/01/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế Công an quận L, TP Hải Phòng làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang M có hành vi mua bán trái phép hóa đơn tại quán café “Mây Tropical". Thu giữ của M 12 tờ hóa đơn đã ghi nội dung (trong đó có 06 tờ hóa đơn của công ty X, 06 tờ hóa đơn của công ty T9), 04 hợp đồng nguyên tắc và 12.800.000 đồng (là tiền T6 tạm ứng mua hóa đơn), 02 điện thoại di động, 01 ô tô BKS 15A – 794.88. M khai: T1 xuất 13 hóa đơn nhưng khi đến gặp Thành Mấm chỉ mang theo 12 tờ hóa đơn (bị bắt quả tang ), còn 01 tờ hóa đơn số 11 ngày07/11/2024 của công ty X Mấm in sót nên không mang theo. Mấm tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 con dấu tròn của Công ty X, 01 con dấu tròn của Công ty T9, 01 con dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 con dấu chức danh giám đốc Ngụy Văn T7.
Quá trình điều tra vụ án xác định: Mấm còn cùng với Chu Đức C1 sử dụng công ty TNHH V, MST: 0202175806 (công ty V) và công ty T11, MST: 0202202489 (công ty T11) mua bán trái phép hóa đơn (hóa đơn khống), cụ thể:
Vào khoảng tháng 8/2023, do thấy công ty V (công ty do Chu Đức C1 thành lập và đứng tên giám đốc), công ty T11 (công ty do Nguyễn Kim B, SN: 1990, ĐKTT: số 9/227 đường 5 mới, H, Hồ N, Hải Phòng thành lập và đứng tên giám đốc) hoạt động kinh doanh không hiệu quả nên M và C1 bàn bạc, thống nhất sử dụng 02 công ty này để hoạt động mua bán trái phép hóa đơn kiếm lời. Đối với công ty V, C1 yêu cầu M tìm thay người khác đứng tên giám đốc công ty trước khi hoạt động mua bán trái phép hóa đơn. Mấm đã thuê Lê Văn G, SN: 1986, ĐKTT: Tân Tiến, A, Hải Phòng và làm thủ tục thay đổi giám đốc cho công ty V. Đối với công ty T11, C1 nói chuyện với B và B đồng ý cho M, C1 sử dụng công ty này để bán trái phép hóa đơn. B được trả công 30.000.000 đồng/tháng, đồng thời được giao nhiệm vụ theo dõi tài khoản ngân hàng của công ty. M và C1 chia tiền thu lời từ việc bán trái phép hóa đơn của 02 công ty sau khi trừ đi các chi phí theo tỷ lệ 50/50. C1, M mua bán trái phép hóa đơn với phương thức, thủ đoạn như nêu ở trên, trong đó phân công nhiệm vụ như sau: Mấm làm kế toán, tìm mua hóa đơn đầu vào cho 02 công ty với giá bằng 1,8% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế), tìm khách hàng mua hóa đơn, quản lý token, bộ dấu của 02 công ty, quản lý tài khoản số 5185186688 mở tại ngân hàng A1 của công ty V và tài khoản số 9044446666 mở tại ngân hàng A1 của công ty T11; C1 tìm khách hàng cho 02 công ty; B đến ngân hàng rút tiền, chuyển tiền cho khách hàng theo chỉ định của M, C1. Mấm tìm khách hàng vẫn thông qua người nữ giới tên H (như nêu ở trên) và bán hóa đơn cho người này với giá bằng 2% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế).
Ngoài ra C1 còn tìm khách hàng có nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ thực tế, xong thuê đơn vị trung gian bán hàng hóa, dịch vụ thật và sử dụng công ty V xuất bán trái phép hóa đơn với giá bằng với số tiền thuế áp dụng cho loại hàng hóa, dịch vụ đó theo quy định của nhà nước. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024 C1 đã xuất bán trái phép 05 tờ hóa đơn có ghi nội dung, trong đó có 04 tờ hóa đơn ( 01 tờ cho Công ty TNHH T12, 01 tờ cho Công Ty Cổ Phần T13, 01 tờ cho Công Ty Cổ Phần B4, 01 tờ cho Công ty TNHH A2) để hưởng lợi bằng 6,2% và 01 tờ hóa đơn xuất cho Công ty TNHH A2 để hưởng lợi 8,2%. Đối với các giao dịch này, sau khi khách hàng thanh toán tiền vào tài khoản ngân hàng của công ty V thì M chuyển lại toàn bộ cho C1, C1 thanh toán tiền mua trái phép hóa đơn đầu vào tương ứng cho M, phần còn lại C1 hưởng lợi riêng mà không phải chia cho M và B.
Từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, công ty X, công ty T9, công ty V, công ty T11 đã bán được nhiều tờ hóa đơn ghi khống nội dung. Cụ thể như sau:
-
Công ty X đã xuất trái phép tổng 154 tờ hóa đơn ghi nội dung có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 118.732.135.151 đồng, trong đó có 27 tờ hóa đơn bị xóa bỏ/hủy bỏ có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 24.265.243.860 đồng, 02 tờ hóa đơn bị thay thế có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 1.533.593.500 đồng. Như vậy, công ty X đã xuất bán trái phép 125 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 92.933.297.791 đồng.
-
Công ty T9 xuất trái phép 63 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 61.068.892.457 đồng, trong đó có 02 tờ hóa đơn bị xóa bỏ/hủy bỏ có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 171.500.000 đồng, 02 tờ hóa đơn bị thay thế có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 3.192.300.040 đồng. Như vậy, công ty T9 đã xuất bán trái phép 59 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 57.705.092.417 đồng.
-
Công ty V đã xuất trái phép 252 tờ hóa đơn ghi nội dung có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 117.429.494.636 đồng (tính từ khi công ty thay đổi tên giám đốc sang L), trong đó có 08 tờ hóa đơn bị xóa bỏ/hủy bỏ có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 3.219.113.154 đồng. Như vậy, Công ty V xuất bán trái phép 244 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 114.210.381.482 đồng.
-
Công ty T11 đã xuất trái phép 168 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 71.817.539.189 đồng, trong đó có 151 tờ hóa đơn bị xóa bỏ/hủy bỏ có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 66.899.507.055 đồng, 01 tờ hóa đơn đã bị điều chỉnh có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 763.182.000 đồng, 02 hóa đơn điều chỉnh thuế có tổng giá trị là 0 đồng. Như vậy, công ty T11 đã xuất bán trái phép 15 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 5.111.532.134 đồng.
Về số tờ hóa đơn bán trái phép và số tiền thu lời bất chính của các bị cáo:
-
Đối với công ty X, công ty T9: T1 đã bán được 184 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 150.638.390.208 đồng. Trong đó, M đã môi giới cho T1 bán được 22 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 19.959.442.150 đồng. M khai mới thu được tiền bán hóa đơn do khách hàng tạm ứng là 242.800.000 đồng (12.800.000 đồng là tiền T6 tạm ứng khi M bị bắt quả tang, 230.000.000 đồng là tiền H tạm ứng trước đó), số tiền còn lại chưa thu được do chưa đến cuối kỳ kê khai thuế. T1 khai mới thu được tiền bán hóa đơn do M và L1 chuyển là 290.000.000 đồng (trong đó, M chuyển 230.000.000 đồng, L1 chuyển 60.000.000 đồng).
-
Đối với công ty V: Mấm đã bán được 239 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa tính thuế là 112.144.865.141 đồng. M khai mới thu được tiền bán hóa đơn do khách hàng tạm ứng và thanh toán là 150.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa thu được hết của khách. C1 đã bán được 5 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 2,065,516,341 đồng nhưng mới thu được tiền bán hóa đơn của 03 tờ với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 1.165.065.141 đồng, thu lợi số tiền 72.234.039 đồng.
-
Đối với công ty T11: Ban đầu công ty đã xuất trái phép 168 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 71.817.539.189 đồng. Sau đó, công ty hủy nhiều tờ hóa đơn nên M chỉ bán được 15 tờ hóa đơn có tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 5.111.532.134 đồng. M khai đã thu được tiền tạm ứng bán hóa đơn khoảng 100.000.000 đồng
-
M đã thanh toán tiền thu lợi cho C1 150.000.000 đồng (gồm công ty V và công ty T11). C1 đã nhận 150.000.000 đồng này và trả lương cho B 53.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, T1, M, C1, B đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.
-
Tại Kết luận giám định số 2496 ngày 26/8/2024 của Phòng K1, Công an T14: giám định điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số máy: MHDC3VN/A, số IMEI 1: 357143269298045 thu của Nguyễn Văn M tìm thấy 1292 cuộc gọi, 3117 danh bạ, 01 cuộc trò chuyện Facebook, 01 cuộc trò chuyện Facebook Messenger, 11 cuộc trò chuyện Messages, 18 cuộc trò chuyện Telegram, 105 cuộc trò chuyện Zalo (Trong đó có những nội dung liên quan đến hành vi mua bán hóa đơn của M)
-
Tại Kết luận giám định số 2666 ngày 29/8/2024 của Phòng K1, Công an T14: xe ô tô con, nhãn hiệu Mitsubishi, mang BKS: 15A-794.88 có số khung RLA2TGF2MP1000285, số máy C585574B11 là số nguyên thủy, không phát hiện có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự.
Xác minh tại Chi cục Thuế khu vực V1 – H tỉnh Bắc Giang xác định: Do Công ty X và Công ty T9 có dấu hiệu bất thường về nộp thuế nên Chi cục thuế khu vực Việt Yên - Hiệp Hòa tỉnh V1 có Thông báo số 124/CCTKV-KTr1 ngày 10/01/2024 về việc rà soát, kiểm tra xử lý doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế và Công văn số 125/CCTKV-KTr1 ngày 10/01/2024 đề nghị phối hợp điều tra doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.
Xác minh tại Cục T15 xác định: Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 07/02/2024, Công ty T11 đã nộp 14.370.173 đồng tiền thuế; Công ty V có mã số thuế ở tình trạng không hoạt động. Số tiền nộp ngân sách năm 2023: Tiền thuế giá trị gia tăng là 7.507.579 đồng, lệ phí môn bài là 2.000.000 đồng, nợ đọng ngân sách 61.094.918 đồng tiền thuế giá trị gia tăng.
Tại Bản Cáo trạng số 280/CT-VKSLC ngày 18/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn M, Ngô Văn T1 và Chu Đức C1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Kim B về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Đối với 126 đơn vị, doanh nghiệp có giao dịch nhận hóa đơn của Công ty X, Công ty T9, Công ty V và Công ty T11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Đối với các đối tượng có tên là L1, H, T6 và Lê Văn G liên quan đến hoạt động mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T5 là người đứng tên giám đốc Công ty T9 và Thân Văn T4 là người đứng tên giám đốc Công ty X. Quá trình điều tra xác định anh T5 và anh T4 không biết và không liên quan đến 02 công ty trên nên không có căn cứ xử lý.
Đối với tài khoản số 63218886 mở tại ngân hàng M3 mang tên Phùng Văn C2 do Ngô Văn T1 quản lý để thực hiện việc mua bán trái phép hóa đơn, quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là Phùng Văn C2, sinh năm 1995; trú quán: tổ H phường T, quận L, Hà Nội đã chết ngày 03/11/2023 nên không có căn cứ để xử lý đối với Phùng Văn C2.
- Về Vật chứng vụ án:
-
+ Đối với 12 tờ hóa đơn đã ghi nội dung (trong đó có 06 tờ hóa đơn của Công ty X, 06 tờ hóa đơn của Công ty T9); 04 Hợp đồng nguyên tắc chuyển theo hồ sơ vụ án
-
+ Đối với xe 01 ô tô BKS 15A - 794.88 do không liên quan đến vụ án và là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn M và vợ là chị Ngô Thị Q. Viện kiểm sát quận L đã ra quyết định trả lại xe cho M và chị Q quản lý sử dụng.
-
+ Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân 12.800.000 đồng (là tiền T6 tạm ứng mua hóa đơn), 02 điện thoại di động, 01 dấu tròn của Công ty X, 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn T5.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử : Bị cáo Ngô Văn T1 tự nguyện nộp số tiền 150.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0003285 ngày 25/10/2024); bị cáo Nguyễn Văn M tự nguyện nộp 135.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0003346 ngày 18/10/2024) và bị cáo nguyễn Kim B tự nguyện nộp 53.000.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0003504 ngày 13/02/2025) vào thi hành án để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Ngô Văn T1 và Chu Đức C1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Kim B về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M và Chu Đức C1. Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kim B; xử phạt tiền: Bị cáo Ngô Văn T1 từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng; Nguyễn Văn M từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng; Chu Đức C1 từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng; Nguyễn Kim B từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.
Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị buộc bị cáo Ngô Văn T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 283.0350596 đồng; bị cáo Nguyễn Văn M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 99.634.098 đồng; bị cáo Chu Đức C1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 230.892.642đồng; bị cáo Nguyễn Kim B nộp lại thu lợi bất chính số tiền là 53.000.000 đồng để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 dấu tròn của Công ty X, 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 dấu chức danh giám đốc Ngụy Văn T7;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” :
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K1 - Công an thành phố T14 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024:
-
Ngô Văn T1 đã sử dụng công ty X, công ty T9 bán trái phép 184 tờ hóa đơn ghi nội dung (125 tờ của công ty X, 59 tờ của công ty T9) với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 150.638.390.208 đồng và hưởng lợi số tiền bằng 0,2% tổng giá trị này là 301.276.780 đồng (Ba trăm linh một triệu, hai trăm bảy mươi sáu ngàn, bảy trăm tám mươi đồng)
-
Nguyễn Văn M đã đồng phạm giúp sức cho T1 bán 22 tờ hóa đơn ghi nội dung của các công ty X, công ty T9 được hưởng lợi là 112.883.620 đồng (Trong đó, 09 tờ hóa đơn có tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 10.838.850.150 đồng và hưởng lợi số tiền bằng 0,2% tổng giá trị này là 21.677.700 đồng; 13 tờ hóa đơn có tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 9.120.592.000 đồng và hưởng lợi số tiền bằng 1% tổng giá trị này là 91.205.920 đồng (Chín mươi mốt triệu, hai trăm linh năm ngàn, chín trăm hai mươi đồng).
-
Nguyễn Văn M đồng phạm cùng Chu Đức C1 đã sử dụng công ty V, công ty T11 bán trái phép 254 tờ hóa đơn (239 tờ của công ty V, 15 tờ của công ty T11) có tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 119.321.913.616 đồng. Trong đó, M và C1 cùng nhau hưởng lợi số tiền thu được từ việc mua bán trái phép 254 tờ hóa đơn có tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ (chưa tính thuế) là 117.256.397.275 đồng và hưởng lợi bằng 0,2% tổng giá trị này là 234.512.795 đồng. M và C1 chia tiền thu lời từ việc bán trái phép hóa đơn của 02 công ty sau khi trừ đi chi phí trả công cho B là 53.000.000 đồng theo tỷ lệ 50/50. Như vậy M và C1 mỗi bị cáo được hưởng lợi là : (234.512.795 – 53.000.000) : 2 = 90.756.398 đồng (Chín mươi triệu, bảy trăm năm mươi sáu ngàn, ba trăm chín mươi tám đồng).
-
Ngoài ra, Chu Đức C1 còn sử dụng công ty V mua bán trái phép 05 tờ hóa đơn ghi nội dung với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 2.065.516.341 đồng. Trong đó có 04 tờ hóa đơn (01 tờ cho Công ty TNHH T12, 01 tờ cho Công Ty Cổ Phần T13, 01 tờ cho Công Ty Cổ Phần B4, 01 tờ cho Công ty TNHH A2) có tổng giá trị hàng hóa dịch vụ (chưa tính thuế) là 1.461.804.741 đồng, C1 hưởng lợi 6,2% tổng giá trị này là 90.631.893 đồng và 01 tờ hóa đơn xuất cho Công ty TNHH A2 có tổng giá trị hàng hóa dịch vụ (chưa tính thuế) là 603.711.600 đồng, hưởng lợi bằng 8,2% tổng giá trị này là 49.504.351 đồng. C1 hưởng lợi riêng là 140.136.244 đồng (Một trăm bốn mươi triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, hai trăm bốn mươi bốn đồng)
-
Nguyễn Kim B đã đồng ý cho Nguyễn Văn M và Chu Đức C1 sử dụng Công ty T11 bán trái phép 15 tờ hóa đơn ghi nội dung với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế) là 5.111.532.134 đồng, được trả công 53.000.000 đồng.
[8] Hành vi của các bị cáo: Nguyễn Văn M, Ngô Văn T1, Chu Đức C1 và Nguyễn Kim B thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[9] Bị Cáo Ngô Văn T1 đã bán trái phép 184 tờ hóa đơn ghi nội dung hưởng lợi 301.276.780 đồng; bị cáo Nguyễn Văn M đã giúp sức cho T1 bán 22 tờ hóa đơn ghi nội dung, hưởng lợi 112.883.620 đồng và cùng bị cáo Chu Đức C1 bán 254 tờ hóa đơn ghi nội dung hưởng lợi 90.756.398 đồng, bị cáo M được hưởng lợi từ việc mua bán trái phép hóa đơn thông qua 04 Công ty với tổng số tiền là (112.883.620 đồng + 90.756.398 đồng ) = 203.640.018 đồng; bị cáo Chu Đức C1 đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn M mua bán trái phép 254 tờ hóa đơn ghi nội dung hưởng lợi 90.756.398 đồng và bán 05 tờ hóa đơn ghi nội dung để hưởng lợi riêng 140.136.244 đồng, tổng cộng Chu Đức C1 được hưởng lợi là 230.892.642đồng. Do đó các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M và Chu Đức C1 phải chịu tình tiết định khung hình phạt: “...chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên” và “T8 lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
[10] Bị cáo Nguyễn Kim B đã đồng ý cho Nguyễn Văn M và Chu Đức C1 sử dụng Công ty T11 bán trái phép 15 tờ hóa đơn ghi nội dung được trả công 53.000.000 đồng, hành vi của bị cáo B thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự
[11] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[12] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
- Về vai trò của các bị cáo và hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm, nên cần căn cứ Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
[13] Trong vụ án: Bị cáo T1 là người khởi xướng, trực tiếp sử dụng 02 Công ty X và Công ty T9, chỉ đạo bị cáo M thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn; bị cáo M đồng phạm giúp sức cho bị cáo T1 sử dụng 02 Công ty X và Công ty T9 bán trái phép 22 tờ hóa đơn ghi nội dung để hưởng lợi. Ngoài ra bị cáo M còn đồng phạm với bị cáo Chu Đức C1 sử dụng 02 Công ty V và Công ty T11 thực hiện việc mua bán trái phép 254 tờ hóa đơn để hưởng lợi. Do đó bị cáo M và bị cáo T1 có vai trò ngang nhau và cao nhất trong vụ án. Tuy nhiên đặc điểm nhân thân bị cáo T1 hiện đang bị Cơ quan ANĐT- Công an tỉnh N khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” (Theo Quyết định khởi tố bị can số 17/QĐ-ANĐT ngày 25/7/2024 của Cơ quan ANĐT- Công an tỉnh N). Do hành vi phạm tội lần này của bị cáo Ngô Văn T1 được thực hiện trước khi bị Cơ quan ANĐT- Công an tỉnh N khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước” vào ngày 25/7/2024 nên hành vi phạn tội lần này của bị cáo không bị tính là tái phạm, nhưng thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém. Mặt khác số lượng hóa đơn giá trị gia tăng bị cáo T1 bán hưởng lợi là 301.276.780 đồng nhiều hơn bị cáo M hưởng lợi từ 4 công ty là 203.640.018 dồng, do đó bị cáo T1 phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Mấm.
[14] Bị cáo Chu Đức C1 đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn M sử dụng 02 công ty (Công ty V và Công ty T11) thực hiện hành vi mua bán bán trái phép 254 tờ hóa đơn ghi nội dung, mỗi bị cáo hưởng lợi 90.756.398 đồng. Ngoài ra bị cáo Chu Đức C1 còn bán 05 tờ hóa đơn ghi nội dung để hưởng lợi riêng 140.136.244 đồng, vì vậy cáo C1 có vai trò thứ hai trong vụ án. Tuy nhiên, cần nhận thấy số lượng hóa đơn giá trị gia tăng bị cáo C1 bán hưởng lợi 230.892.642 đồng nhiều hơn bị cáo M hưởng lợi từ 4 công ty là 203.640.018 đồng nên bị cáo C1 phải chịu mức hình phạt ngang với bị cáo M.
[15] Bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo M và bị cáo C1 sử dụng Công ty T11 bán trái phép 15 tờ hóa đơn ghi nội dung và được trả công 53.000.000 đồng. Bị cáo C1 có vai trò thấp nhất trong vụ án.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[16] Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024 các bị cáo Nguyễn Văn M, Ngô Văn T1 và Chu Đức C1 nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội mà mỗi lần đều đủ yêu tố cấu thành tội phạm, nên các bị cáo Nguyễn Văn M, Ngô Văn T1 và Chu Đức C1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[17] Bị cáo Nguyễn Kim B: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[18] Nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[19] Sau khi phạm tội, bị cáo Ngô Văn T1 ra đầu thú. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M; Nguyễn Kim B đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự có thể xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M; Nguyễn Kim B một phần khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
[20] Xét các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội các bị cáo đã nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính. Mặt khác, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm thu nhập ổn định, chứng minh khả năng áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Chính vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục và răn đe đối với các bị cáo, đồng thời đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước.
- Về Số tiền thu lợi bất chính: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện,
[21] Bị cáo T1 thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép 184 tờ hóa đơn số tiền là 301.276.780 đồng; bị cáo M thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn thông qua 04 Công ty với tổng số tiền là 203.640.018 đồng; bị cáo C1 thu lợi bất chính từ số tiền là 230.892.642 đồng, bị cáo B thu lợi bất chính số tiền là 53.000.000 đồng. Tuy nhiên cần xem xét trong số hóa đơn mua bán trái phép của bị cáo T1 và bị cáo M nêu trên thì có 13 tờ hóa đơn (Gồm 07 tờ hóa đơn của Công ty X và 06 tờ hóa đơn của công ty T9) với tổng giá tiền hàng hóa ghi trên 13 hóa đơn chưa tính thuế là 9.120.592.000 đồng. Mấm đang thực hiện giao dịch bị bắt quả tang, cơ quan công an thu giữ của M số tiền 12.800.000 đồng (là tiền T6 tạm ứng mua 13 tờ hóa đơn) số tiền còn lại Mấm chưa thu được. T1 và M chưa được hưởng số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán 13 tờ hóa đơn đó. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không buộc bị cáo T1 và bị cáo M phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép 13 tờ hóa đơn nêu trên.
[22] Từ phân tích nêu trên, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là: (301.276.780 đồng – 9.120.592.000 đồng x 0,2%) = 283.035.596 đồng; Bị cáo M nộp lại số tiền đã thu lợi bất chính là (203.640.018 đồng - 9.120.592.000 đồng x 01% - 12.800.000 đồng) = 99.634.098 đồng; bị cáo C1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 230.892.642 đồng; bị cáo B phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 53.000.000 đồng để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước
- Về xử lý vật chứng:
[23] Đối với 01 con dấu tròn của Công ty TNHH X, 01 con dấu tròn của Công ty TNHH T9, 01 dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn T5 đều liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[24] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng có số IMEI: 351143341200080 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo M, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo M.
[25] Đối với số tiền 12.800.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng có số IMEI: 357143269298045 đã qua sử dụng thu giữ của bi cáo Mấm khi bắt quả tang, xét đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và tiền do bị cáo phạm tội mà có nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[26] Đối với số tiền 150.000.000 đồng của bị cáo Ngô Văn T1; 135.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M; 53.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Kim B tự nguyện nộp vào thi hành án để chứng minh khả năng chấp hành hình phạt chính là hình phạt tiền, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
[27] Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về các vấn đề khác:
[28] Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và các cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty, liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
[29] Kiến nghị cơ quan quản lý thuế cần có sự quản lý chặt chẽ đối với các công ty có hoạt động sản xuất, kinh doanh bất thường, các công ty không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, có biện pháp kiểm tra, thanh tra đối với các công ty có doanh thu cao, tăng giảm đột biến trong cùng một thời gian theo các quy định về lĩnh vực thuế.
[30] Kiến nghị Sở Kế hoạch đầu tư các tỉnh, thành phố liên quan tham mưu cho cơ quan cấp trên quy định chặt chẽ hơn về quy trình thành lập, đăng ký doanh nghiệp, kịp thời phát hiện, xử lý những doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh không đúng quy định.
- Về quyền kháng cáo bản án:
[31] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M và Chu Đức C1. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn T1 và Nguyễn Văn M
- Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Kim B
Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Văn M, Chu Đức C1, Nguyễn Kim B phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.
Xử phạt tiền bị cáo Ngô Văn T1 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn M 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Xử phạt tiền bị cáo Chu Đức C1 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Kim B 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng).
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo Lĩnh” đối với bị cáo Nguyễn Văn M; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” đối với các bị cáo Chu Đức C1, Nguyễn Kim B.
- Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Ngô Văn T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 283.035.596 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu, không trăm ba mươi năm ngàn, năm trăm chín mươi sáu đồng); bị cáo Nguyễn Văn M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 99.634.098 đồng (Chín mươi chín triệu, sáu trăm ba mươi tư ngàn, không trăm chín mươi tám đồng); bị cáo Chu Đức C1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 230.892.642đồng (Hai trăm ba mươi triệu, tám trăm chín mươi hai ngàn, sáu trăm bốn mươi hai đồng); bị cáo Nguyễn Kim B nộp lại thu lợi bất chính số tiền là 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
-
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 con dấu tròn của Công ty TNHH X, 01 con dấu tròn của Công ty TNHH T9, 01 dấu chức danh giám đốc Thân Văn T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn T5.
-
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 12.800.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng có số IMEI: 357143269298045 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Mấm.
-
+ Trả lại bị cáo M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng có số IMEI: 351143341200080 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và Ủy nhiệm chi lập ngày 25/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước L2 ).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 150.000.000 đồng của bị cáo Ngô Văn T1; 135.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M; 53.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Kim B để đảm bảo việc thi hành án.
(Theo Biên lai thu tiền số 0003285 ngày 25/10/2024; Biên lai thu tiền số 0003346 ngày 18/10/2024; Biên lai thu tiền số 0003504 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về các vấn đề khác:
Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và các cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty, liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
Kiến nghị cơ quan quản lý thuế cần có sự quản lý chặt chẽ đối với các công ty có hoạt động sản xuất, kinh doanh bất thường, các công ty không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, có biện pháp kiểm tra, thanh tra đối với các công ty có doanh thu cao, tăng giảm đột biến trong cùng một thời gian theo các quy định về lĩnh vực thuế.
Kiến nghị Sở Kế hoạch đầu tư các tỉnh, thành phố liên quan tham mưu cho cơ quan cấp trên quy định chặt chẽ hơn về quy trình thành lập, đăng ký doanh nghiệp, kịp thời phát hiện, xử lý những doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh không đúng quy định.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND quận Lê Chân;
- - VKSND TP Hải Phòng;
- - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng;
- - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- - UBND nơi bị cáo cư trú;
- - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
- - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
- - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Mấm
