|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Lê Xuân Thuật.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Trịnh Vinh T, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn F, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do. trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Vinh L và con bà Lê Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong bản án ngày 01/9/2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Bị hại:
- Chị Lừ Thị H, sinh năm 1995, trú tại: Bản C, xã M, huyện B, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Lừ Minh D, sinh năm 2002, trú tại: Bản T, xã T, huyện B, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981, trú tại: Thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Lò Thị Hồng N, sinh năm 2004, trú tại: Bản P, xã Y, huyện S, tỉnh Sơn La; Anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1984, trú tại: Thôn Y, xã D, huyện K, Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Vinh T, sinh năm 1997, nơi đăng ký thường trú: Thôn F, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có quan hệ tình cảm với chị Lừ Thị H, sinh năm 1995, nơi đăng ký thường trú: Bản Chạng, xã M, huyện B, tỉnh Sơn La từ tháng 9/2024, sống cùng với nhau thuê trọ ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 07 giờ 30 ngày 20/11/2024, chị H nhờ T chở đi làm tại Công ty H1 ở khu Công nghiệp T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bằng xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 26AM - 007.86 là xe của chị H. Khi đến cổng công ty, chị H giao chiếc xe mô tô này cho T đi về phòng trọ để đến chiều tối T sử dụng chiếc xe mô tô này đưa cháu ruột của chị H là chị Lừ Thảo M, sinh năm 2006 ở bản C, xã M, huyện B, tỉnh Sơn La đang ở cùng chị H đi làm công ty đồng thời đón chị H đi làm về. T đồng ý và điều khiển xe mô tô của chị H đi về phòng trọ. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T biết trong cốp xe mô tô chị H có để giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và căn cước công dân của chị H nên T đã nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô của chị H đi bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân. T điều khiển xe mô tô đến cửa hàng M2, địa chỉ tại tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên do anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981, ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên điều hành và quản lý. Tại đây, T gặp anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1984, ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên đang trông cửa hàng hộ anh C, T nói với anh Q đây là xe mô tô của vợ T đang cần tiền nên mang bán, T mở cốp xe lấy đăng ký xe cùng căn cước công dân của chị H và căn cước công dân của T đưa cho Q để kiểm tra. Anh Q tin tưởng T nên gọi điện qua ứng dụng F cho anh C để trao đổi mua bán xe. Anh C thấy xe thấy xe còn mới, có giấy tờ đầy đủ nên thoả thuận mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 26AM - 007.86 của T với giá 26.000.000 đồng. Anh C bảo anh Q viết giấy tờ mua bán xe mô tô, chuyển số tiền 26.000.000 đồng để anh Q trả tiền cho T. Sau khi nhận được tiền T đi về phòng trọ của mình. Tối cùng ngày, khi chị H đi làm về không thấy xe mô tô của mình nên hỏi T thì T nói dối chị H là mang xe đi độ đèn, khoảng 01 đến 02 ngày mới làm xong nên chị H tin tưởng là thật không hỏi gì nữa.
Đến khoảng 07 giờ, ngày 22/11/2024, lợi dụng lúc chị H đang ngủ, T lén lút sử dụng điện thoại của chị H vào ứng dụng mạng xã hội Facebook rồi vào phần tin nhắn M1 (T dùng tài khoản của chị H) giả danh chị H nhắn tin đến tài khoản Messenger của anh Lừ Minh D, sinh năm 2002, ở bản T, xã T, huyện B, tỉnh Sơn La (là em họ của chị H) đang ở trọ tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, hỏi mượn anh D xe mô tô để đi chơi và bảo T qua phòng trọ để lấy xe. Anh Dũng tin tưởng là chị H nhắn tin hỏi mượn xe nên đã đồng ý. Sau khi nhắn tin cho anh D xong, để tránh bị chị H phát hiện, T đã xoá tin nhắn cuộc trò chuyện với anh D trên điện thoại của chị H. Sau đó, T đi bộ đến khu phòng trọ của anh D ở gần đó để lấy xe. Do xe mô tô của anh D vào sáng ngày 22/11/2024, chị Lò Thị Hồng N, sinh năm 2004, ở bản P, xã Y, huyện S, tỉnh Sơn La là người yêu, ở cùng phòng trọ với anh D đã sử dụng để đi làm và giao lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AIR BLADE, màu đen vàng, biển số 26AG - 008.29 của chị N cho anh D quản lý sử dụng. Anh
2
D1 biết T là người yêu của chị H nên tin tưởng cho T mượn chiếc xe mô tô này, đồng thời nói cho T biết đăng ký xe mô tô để ở trong cốp xe. Sau khi mượn được xe mô tô của anh D1 và biết có giấy tờ đầy đủ, T điều khiển xe đi đến cửa hàng mua bán xe máy Chiển Y để bán chiếc xe này. T tiếp tục nói dối anh Q là xe của bạn muốn bán nhưng do bận nên nhờ T đi bán giúp. Anh Q tiếp tục gọi điện điện qua ứng dụng Facetime cho anh C để trao đổi mua bán xe. Anh C đồng ý mua xe, bảo anh Q viết giấy mua bán xe với T và chuyển cho anh Q số tiền 27.000.000 đồng để trả tiền mua xe cho T. Sau khi bán được xe mô tô, T bắt xe khách đi về quê ở Thanh Hóa trốn tránh không trả lại xe cho anh D1 và chị H đồng thời tiêu sài cá nhân hết số tiền có được do bán 02 xe mô tô trên.
Sau khi phát hiện Trịnh Vinh T đã bán xe mô tô của mình, ngày 26/11/2024, chị Lừ Thị H và anh Lừ Minh D đến Công an xã L trình báo và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, T đến Công an xã L đầu thú và giao nộp 01 giấy mua bán tài sản (xe máy biển số 26AG-008.29) ngày 22/11/2024 của cửa hàng M2.
Ngày 26/11/2024, Công an xã L bàn giao hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 28/11/2024, anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981, ở thôn Y, xã D, huyện K là chủ cửa hàng Chiến Y giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y quản lý: 01 chiếc xe mô tô biển số 26AM-007.86, số khung RLHJK035XPY157505, số máy JK03E8309107; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của xe mô tô biển số 26AM - 007.86; 01 căn cước công dân mang tên Lừ Thị H; 01 căn cước công dân mang tên Trịnh Vinh T; 01 xe mô tô biển số 26AG 008.29, số khung RLHJK1402PZ302247, số máy JK14E0325597; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của xe mô tô biển số 26AG-008.29; 01 căn cước công dân tên Lò Thị Hồng N; 01 bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cửa hàng M2; 01 bản phô tô giấy uỷ quyền và 01 bản phô tô căn cước công dân của Đặng Văn Đ, sinh năm 1977 ở tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-ĐG ngày 03/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận:
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AIR BLADE, màu đen vàng, biển số 26AG-008.29, đã qua sử dụng trị giá 41.400.000 đồng.
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 26AM - 007.86, đã qua sử dụng trị giá 35.100.000 đồng.
Đối với Đỗ Văn Q, sinh năm 1984 và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981 cùng ở thôn Y, xã D, huyện K khi mua bán 02 chiếc xe mô tô của Trịnh Vinh T, không biết là tài sản do T phạm tội mà có. Sau khi biết sự việc, anh C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 chiếc xe mô tô trên cùng toàn bộ giấy tờ có liên quan, do vậy hành vi của Q và anh C không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không xử lý.
3
Đối với chị Lừ Thị H, không biết việc T sử dụng điện thoại của mình để nhắn tin cho anh Lừ Minh D mượn xe mô tô, không được hưởng lợi gì từ việc T mang xe đi bán, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với việc T trình bày mang 02 chiếc xe mô tô trên đến cầm cố cho cửa hàng mua bán xe Chiển Yến với số tiền 53.000.000 đồng, lãi suất 2.500 đồng /01 triệu/01 ngày, cắt lãi trước 10 ngày dưới hình thức viết giấy mua bán xe, sau khi trừ số tiền 10 ngày lãi trước thì nhận tổng số tiền là 51.675.000 đồng. Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn C không thừa nhận việc nhận cầm cố xe và thu lãi như T trình bày mà chỉ thừa nhận đã đồng ý để anh Q mua bán 02 chiếc xe mô tô trên với T.
Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập anh Đỗ Văn Q nhưng đều vắng mặt tại địa phương. Tiến hành cho anh C và T đối chất nhưng anh C từ chối. Ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối với anh Q, anh C.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe mô tô hãn hiệu Honda AIR BLADE, màu đen vàng, biển số 26AG-008.29 được đăng ký là tài sản của chị Lò Thị Hồng N; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 26AM - 007.86 là tài sản của chị Lừ Thị H bị T chiếm đoạt. Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho chị Lừ Thị H chiếc xe mô tô cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 căn cước công dân mang tên chị H; trả cho chị Lò Thị Hồng N chiếc xe mô tô biển số 26AG - 008.29, cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 căn cước công dân mang tên chị N, chị H và chị N đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trịnh Vinh T cơ quan điều tra tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án để chờ xử lý.
Đối với số tiền 53.000.000 đồng là tiền T có được do bán xe cho anh Nguyễn Văn C mà có, T đã tiêu sài cá nhân hết. Anh Nguyễn Văn C yêu cầu T phải trả lại số tiền trên.
Quá trình điều tra Trịnh Vinh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-YM ngày 11/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Trịnh Vinh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Trịnh Vinh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 175; các
4
điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Vinh T từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù về “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả anh C 53 triệu đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá của Hội đồng định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở xác định: Ngày 20/11/2024, tại khu vực thôn L, xã L, huyện Y, Trịnh Vinh T có hành vi lợi dụng quen biết, được chị H giao cho chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 26AM- 007.86 trị giá 35.100.000 đồng để chở chị H đi làm, sau đó T đã bán cho anh Nguyễn Văn C được số tiền 26.000.000 đồng. Tiếp tục, ngày 22/11/2024 T dùng thủ đoạn gian dối mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 26AG- 008.29 trị giá 41.400.000 đồng của anh Lừ Minh D mang đi bán cho anh Nguyễn Văn C được số tiền 27.000.000 đồng. T chi tiêu cho bản thân hết số tiền bán xe dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chị H và anh D.
Bị cáo Trịnh Vinh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc được chị H tin tưởng giao xe cho để chở chị H đi làm nhưng bị cáo lại mang đi bán dẫn đến không có khả năng trả lại cho chị H. Ngoài ra, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối mượn xe mô tô của anh Lừ Minh D mang đi bán và tiêu xài cá nhân hết dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho anh D.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Trịnh Vinh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
5
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo đã thực hiện là cần thiết, để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã viết đơn ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo; trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm nhiều tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 53.000.000 đồng là tiền bị cáo T có được từ việc bán xe cho anh Nguyễn Văn C mà có, T đã tiêu sài cá nhân hết. Anh Nguyễn Văn C yêu cầu T trả lại số tiền đã nhận nên cần buộc bị cáo phải trả anh C số tiền trên.
[8] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trịnh Vinh T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo tại phiên toà.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Vinh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
6
3. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Vinh T 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 01 năm 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai tội là 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2024.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Trịnh Vinh T phải trả cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981, trú tại: Thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên số tiền 53.000.000 đồng (Năm mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ và Cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, nếu các bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền phải trả lại cho bị hại, thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí: Bị cáo Trịnh Vinh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí bị cáo T phải nộp là 2.850.000 đồng (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |
7
8
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo
