TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 20/02/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;
- Các hội thẩm nhân dân: 1/Ông Đỗ Văn Túy;
2/Bà Trần Thị Lan Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai theo thủ tục trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 10/01/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 07/02/225 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1994, tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; HKTT: Tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Hồng Đ1 (đã chết); con bà Vũ Thị P; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh T (đã ly hôn) và có có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 14/02/2011 bị Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng các loại pháo mà không được phép;
- - Ngày 22/6/2020 bị UBND phường D, thị xã M, tỉnh Hưng yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường bằng hình thức Cai nghiện tại cộng đồng.
- - Ngày 25/3/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đã chấp hành xong ngày 29/9/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.
*Những người làm chứng:
- 1/Ông: Vũ Duy Đ2, sinh năm 1971.
- 2/Ông: Nguyễn Hữu Đ3, sinh năm 1964.
- 3/Chị: Nguyễn Thùy L, sinh năm 2006.
- Đều trú tại: TDP T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- 4/Chị: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1997.
- Trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- (Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, tại khu vực đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1994, trú tại: tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc có 01 túi nilon, kích thước (10x06)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon, khích thước (05x08)cm, bên trong chứa tổng số 16 viên nén hình trụ tròn màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT1).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ, thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động kiểu Iphone.
Kết luận giám định số: 595/KL-KTHS (MT) ngày 12/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận:
- + Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng được ký hiệu MT1-1 trong niêm phng ký hiệu MT1 có tổng khối lượng là: 11,903gam ma túy, là loại Methamphetamine.
- + Mẫu chất dạng viên nén màu hồng được ký hiệu MT1-2 trong niêm phong ký hiệu MT1 có tổng khối lượng 1,597gam là ma túy, là loại Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy tại Bệnh viện Đ4 vào ngày 09/9/2024 đối với Nguyễn Hồng Đ đều có kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Nguyễn Hồng Đ khai nhận: Số ma túy thu giữ là của Đ mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vào ngày 27/8/2024 với số tiền 3.800.000 đồng với mục đích để sử dụng. Đ đã sử dụng một phần, phần còn lại mang theo bên người để tiếp tục sử dụng đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng và đồ vật thu giữ gồm: Mẫu hoàn lại sau giám định được niêm phong ghi số 595/KL-KTHS (MT) bên trong chứa 13,424gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định được quản lý tại Kho vật chứng Công an tỉnh H.
Cáo trạng số: 17/CT-VKS-P1 ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
*Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Tịch thu, tiêu hủy: 01 niêm phong số: 595/KL-KTHS (MT) chứa 13, 424 gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- + Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Bị cáo nhất trí và không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của những người làm chứng; Biên bản phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh H. Như vậy đủ cơ sở xác định: Do là người nghiện ma túy và thường xuyên sử dụng ma túy nên ngày 27/8/2024, bị cáo đã mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 3.800.000 đồng ma túy tại khu vực xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên về sử dụng. Bị cáo đã sử dụng một phần, phần còn lại mang theo bên người để tiếp tục sử dụng đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang thu giữ 13,5 gam ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo mua ma túy về sử dụng, khi bị bắt quả tang đã thu giữ khối lượng ma túy 13,5gam ma túy, loại Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo mua, bán mặt hàng Nhà nước cấm mua bán trên thị trường mang về tàng trữ để sử dụng. Việc sử dụng ma túy là rất nguy hiểm cho sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, gây băng hoại đạo đức xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:
- + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử lý hành chính về hành vi liên quan đến ma túy.
- + Hình phạt:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học tu dướng bản thân trở thanh công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua ma túy về sử dụng, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Do vậy, khi cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo cần phải tiếp tục cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như nội dụng đề xuất của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với: Số ma túy được hoàn lại trong niêm phong số: 595/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H có chứa 13,424 gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Đây là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại bị cáo để sử dụng.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thêm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Đ: 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/9/2024.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Tịch thu, tiêu hủy: 01 niêm phong số: 595/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H bên trong có 13,424 gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon màu trắng đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- + Trả lại bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
4. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Điệp phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
