|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày: 19 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hương Trang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Đỗ Thị Thu Hương |
| Bà Mai Lương Anh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 04/02/2025 đối với:
Bị cáo: Võ Văn T, sinh năm1989, tại: Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Â và bà Nguyễn Thị Q; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tại Quyết định số 35/QĐ-XLHC ngày 28/11/2012 bị Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về hành vi đánh nhau. Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi xảy ra sự việc T1 đã đi khỏi nơi cư trú nên không thể làm việc với T.
- - Tại Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2024; chưa chấp hành xong phần án phí và trách nhiệm dân sự.
Bị cáo bị bắt để tạm giam vào ngày 17/12/2024. Hiện nay đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Đ. Có mặt.
Các bị hại:
- - Anh Lê Hồng S, sinh năm 1997; địa chỉ: Số I Đ, Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Quốc T2, sinh năm 2002; địa chỉ: Suối Thông C, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- - Anh Nội Thanh T3, sinh năm 1996; địa chỉ: Buôn E, C, E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Dương Tấn Q1, sinh năm 1997; địa chỉ: TDP N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Bà Hồ Thị Mỹ T4, sinh năm 1976; địa chỉ: Suối Thông C, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- - Ông Lê Văn T5, sinh năm 1976; địa chỉ: Số I Đ, Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn T là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, do không có tiền tiêu xài, T từ huyện D, tỉnh Khánh Hòa lên thành phố Đ trộm cắp xe máy. Từ ngày 15/8/2023 đến ngày 23/8/2023, T thực hiện 03 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn thành phố Đ, cụ thể như sau:
Vụ 1: Ngày 15/8/2023, T cùng Chế Thành K, Nguyễn Trung T6 từ thành phố N lên thành phố Đ. Sau đó cùng bàn bạc đi bộ đến Quảng trường L, Phường A, thành phố Đ thì chia nhau ra trộm cắp xe máy để đưa đi tiêu thụ. Tại khu vực bãi đậu xe ô tô cạnh siêu thị G, T nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 màu đen biển số 49F1-485.14, không có người trông coi, T lại gần dùng vam bẻ khóa xe rồi điều khiển xe ra giao cho T6 để T6 điều khiển xe đến khu vực cây xăng T đường G, Phường A, thành phố Đ chờ. Khoảng 10 phút sau, K gọi điện cho T thông báo lấy trộm được 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, rồi T và K điều khiển xe đi đến điểm hẹn với T6, rồi cả 3 đi về lại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây K mang 02 xe mô tô trộm cắp được đi tiêu thụ và chia cho T số tiền 2.300.000 đồng, T đã tiêu xài hết số tiền này.
Bị hại: Anh Nguyễn Quốc T2 bị chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 màu đen, biển số 49F1-485.14. Tại bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 13/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: Chiếc xe mô tô này trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng). Anh Nguyễn Quốc T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiến 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Vụ 2: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/8/2023, T2 một mình đi xe khách Phương Trang từ thành phố N đến thành phố Đ trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T2 đi đến khu vực bãi đậu xe ô tô của Quảng trường Lâm Viên tìm kiếm tài sản trộm cắp thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 49G1-107.98 không có người trông coi. T2 tiến đến vị trí chiếc xe, sử dụng vam phá khóa chuẩn bị từ trước, phá khóa xe, khởi động máy rồi điều khiển xe về thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, T2 giao xe cho Chế Thành K để K mang đi tiêu thụ và chia cho T2 số tiền 2.500.000 đồng, T2 đã tiêu xài hết số tiền này.
Bị hại: Anh Lê Hồng S bị chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 49G1-107.98. Tại bản kết luận định giá tài sản số 153/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: Chiếc xe mô tô này trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Anh S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
Vụ 3: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/8/2023 Võ Văn T cùng Chế Thành K đi từ thành phố N lên thành phố Đ trộm cắp tài sản. Vào khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, T và K đến Quảng trường L, Phường A, thành phố Đ để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Cả hai bàn bạc K đứng chờ, còn T đi tìm kiếm xe để trộm cắp. Sau khi bàn bạc, T đi vào bãi đậu xe ô tô của Quảng trường Lâm Viên thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen biển số 47F1-493.99, không có người trông coi, T sử dụng 01 đoản tự chế đã chuẩn bị từ trước đi đến tiếp cận phá khóa xe. Sau khi phá khóa Tuấn định dắt xe đi thì thấy có người đứng nhìn T, sợ bị phát hiện nên T bỏ đi. Khi T vừa đi được khoảng 20m thì bị anh Nội Thanh T3 cùng bạn là Dương Tuấn Q2 bắt giữ và giao cho Công an P, thành phố Đ.
Bị hại: Anh Nội Thanh T3 bị chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen biển số 47F1-493.99. Tại bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 13/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: chiếc xe mô tô này có giá trị là 21.000.000 đồng. Anh Nội Thanh T3 đã nhận lại xe mô tô này nên không có yêu cầu bồi thường.
Vật chứng thu giữ:
- 01 cờ lê 8 bằng kim loại, trên thân được dán băng keo đen.
- 01 đoản lục giác bằng kim loại tự chế dài khoảng 06cm.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng hồng, mặt kính bị vỡ.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen biển số 47F1-493.99, SM: G3D4E68147, SK: 0610JY655016.
Cáo trạng số 287/CT-VKSÐL-LĐ ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 18/11/2024 Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt ra Quyết định số 74/2024/HSST-QĐ về việc trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt để điều tra bổ sung lý lịch của bị cáo; xác minh, thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan về thông tin xe, chủ sở hữu của tài sản bị trộm cắp là xe mô tô hiệu Honda Wave 110 màu đen, biển số 49F1-485.14 và xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 49G1-107.98.
Ngày 23/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt có Văn bản số 07/CV-VKSÐL-LĐ về việc đã bổ sung các nội dung mà Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt yêu cầu theo Quyết định trả hồ sơ và giữ nguyên Cáo trạng số 287/CT-VKSÐL-LĐ ngày 13/9/2024 về việc truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Bị cáo không kêu oan và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Bị hại anh Nguyễn Quốc T2 đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng, về hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Mỹ T4 không có ý kiến hoặc yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến giải quyết vụ án: Giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị xét xử:
- Bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cờ lê số 8 bằng kim loại, trên thân được dán băng keo màu đen; 01 (một) đoản lục giác bằng kim loại tự chế dài khoảng 06cm được gọt nhọn một đầu;
- Trả lại cho Võ Văn T 01 điện thoại (một) di động cảm ứng, màu bạc, hiệu Iphone; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng hồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại anh Nguyễn Quốc T2 số tiền 14.000.000 đồng và anh Lê Hồng S số tiền 6.000.000 đồng.
- Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền 4.800.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.
Lời sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội quay lại xã hội. Bị cáo xin lỗi các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
Bị hại anh Lê Hồng S, anh Nội Thanh T3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Tấn Q1, ông Lê Văn T5 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Từ ngày 15/8/2023 đến ngày 23/8/2023, Võ Văn T thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ, cụ thể: Ngày 15/8/2023 T trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Wave 110 màu đen, biển số 49F1-485.14 của anh Nguyễn Quốc T2 trị giá 14.000.000 đồng; ngày 19/8/2023 T2 trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 49G1-107.98 của anh Lê Hồng S trị giá 7.000.000 đồng; ngày 23/8/2023 T2 trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 47F1-493.99 của anh N Thanh Tùng trị giá 21.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Võ Văn T chiếm đoạt là 42.000.000 đồng.
Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Ngoài lần trộm cắp tài sản ở thành phố Đ, bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe máy tại huyện D, tỉnh Khánh Hòa và đã bị xử phạt 01 năm tù. Đối với vụ án này, bị cáo phạm tội nhiều lần với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 42.000.000 đồng. Do đó cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn tương xứng để đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Theo kết luận định giá tài sản số 153/KL-HĐĐG ngày 10/10/2023 và số 49/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thì chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave 110 màu đen, biển số 49F1-485.14 của anh Nguyễn Quốc T2 trị giá là 14.000.000 đồng và Yamaha S1 màu đỏ đen, biển số 49G1-107.98 của anh Lê Hồng S trị giá là 7.000.000 đồng.
Bị hại anh Nguyễn Quốc T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng và bị hại anh Lê Hồng S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại nên ghi nhận.
[5] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp số tiền 4.800.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cờ lê số 8 bằng kim loại, trên thân được dán băng keo màu đen; 01 (một) đoản lục giác bằng kim loại tự chế dài khoảng 06cm được gọt nhọn một đầu;
Trả lại cho Võ Văn T 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu bạc, hiệu Iphone; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng hồng. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024)
[7] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận Chế Thành K và Nguyễn Trung T6 đi cùng với bị cáo lên thành phố Đ để trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp được xe máy, bị cáo giao cho Chế Thành K đi tiêu thụ. Tuy nhiên, qua quá trình đấu tranh các đối tượng Chế Thành K, Nguyễn Trung T6 đều không thừa nhận việc trộm cắp tài sản cùng Võ Văn T. Ngoài lời khai của Võ Văn T không có chứng cứ nào khác chứng minh hành vi trộm cắp tài sản của K và T6. Do đó, giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 275; 584; 585; 586; 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Võ Văn T có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Quốc T2 số tiền 14.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Võ Văn T có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Hồng S số tiền 6.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo nộp số tiền 4.800.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cờ lê số 8 bằng kim loại trên thân cờ lê có dán băng keo màu đen; 01 (một) đoản lục giác bằng kim loại tự chế dài khoản 06cm được gọt nhọn một đầu.
- Trả lại cho Võ Văn T 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu bạc, hiệu Iphone; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng hồng. Tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024)
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 (một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương Trang |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vo Van T "Trom cap tai san"
