|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày 14 – 02 – 2025 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mầm
Ông Nguyễn Trung Đông
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Tòa án.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 604/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
-
Bị đơn: Anh Lê Trường S, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2024 và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị N (Nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Trường S chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh S không quan tâm lo lắng gia đình, thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do đời sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh S.
Về con chung: Vợ chồng có con chung là Lê Như N1, sinh ngày 22/10/2014 và Lê Trường T, sinh ngày 03/02/2016, từ khi ly thân đến nay hai con sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Trường S, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của chị N nhưng anh S không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh S tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh S vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phía anh S đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh S vắng mặt không lý do; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Tranh chấp giữa chị N và anh S là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Trường S có địa chỉ cư trú tại khóm Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Chị N và anh S chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 128/2014 ngày 10/11/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị N yêu cầu được ly hôn với anh S, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Phía anh S không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị N. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh S là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị N xác định có con chung là cháu Lê Như N1, sinh ngày 22/10/2014 và Lê Trường T, sinh ngày 03/02/2016, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu N1 và cháu T đều có nguyện vọng sống với chị N và chị N đã nuôi dưỡng các cháu từ khi anh chị sống ly thân đến nay đã ổn định nên yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu Lê Như N1, sinh ngày 22/10/2014 và Lê Trường T, sinh ngày 03/02/2016 cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Về tài sản chung: Chị N trình bày có tài sản chung nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía anh S không có yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Về nợ thu, nợ trả: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía anh S không có yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này, chị N và anh S có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Trường S.
-
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N được tiếp tục trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Như N1, sinh ngày
22/10/2014 và cháu Lê Trường T, sinh ngày 03/02/2016. Anh Lê Trường S không phải
cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Trường S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0018788, ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Trường S vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Hằng |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Trường S
