Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 13-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu.

2. Ông Phạm Quang Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 260/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đặng Tấn P (tên gọi khác: P xì ke), sinh năm 1988, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/7/2022, Ủy ban nhân dân xã X ra Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 về cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, đến ngày 20/7/2023 Ủy ban nhân dân xã X ra Quyết định số 119/QĐ-UBND về quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú với thời hạn từ ngày 20/7/2023 đến ngày 20/7/2024.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 cho đến nay.

(Bị cáo mặt tại phiên tòa).

2. Trần Ngọc A (tên gọi khác: B), sinh năm 1991, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1959 và bà Trần Ngọc P1, sinh năm 1958 (đã chết); Vợ: Chưa có; Có 02 người con sinh năm 2018 và năm 2023; Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 (bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 60/QĐ-TA ngày 26/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc với thời hạn 22 tháng, chấp hành xong ngày 02/7/2024)

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, xử phạt 06 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tổng hợp hình phạt là 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2019, chấp hành xong hình phạt ngày 28/01/2022.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 cho đến nay.

(Bị cáo mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phạm Thị Bé H, sinh năm 1994. (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  2. Anh Lư Văn K, sinh năm 2000. (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  3. Anh Lê Văn N, sinh năm 1998. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc A và Đặng Tấn P đều là các đối tượng nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 18/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Trần Ngọc A (B) đi đến nhà của Đặng Tấn P (P xì ke) mua 01 gói ma túy đá với số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) và mang về phòng trọ của Ngọc A lấy ra một ít ma túy đá để sử dụng một mình. Sau đó, Ngọc A chia số ma túy còn lại vào 03 (ba) gói nilon, hàn kín và cất giấu vào túi quần Jean bên trái phía trước của Ngọc A, mục đích để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 19/9/2024, Phạm Thị Bé H (là người yêu của Ngọc A) đến phòng trọ của Ngọc A chơi, khoảng 30 phút sau thì có 01 người bạn của Ngọc A (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ) tên thường gọi là S, đến rủ Ngọc A và H đi uống nước. Sau đó, S dùng xe môtô loại xe Wave (không rõ biển số) chở Ngọc A và H đến quán C1 thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Khi đi, Trần Ngọc A mặc chiếc quần Jean màu xanh trong túi quần trước bên trái có 03 (ba) gói ma túy đá đã cất giấu trước đó. Khi đến quán thì S có công việc nên rời đi trước, Trần Ngọc A ngồi uống nước và nói chuyện với H đến khoảng 12 giờ 00 cùng ngày thì H ra khỏi chòi đi vệ sinh. Lúc này, do sợ Công an kiểm tra nên Trần Ngọc A đã lấy trong túi ra 03 (ba) gói ma túy đá và cất giấu vào lỗ gạch ống phía sau chiếc võng của H ngồi. Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, Công an xã X đến kiểm tra và phát hiện trong lỗ gạch 03 (ba) gói nilon, hàn kín, bên trong chứa ma túy đá của Ngọc A đã cất dấu trước đó với mục đích để sử dụng. Cơ quan Công an xã X đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong đồ vật có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Ngọc A thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Công an không thu giữ gì.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Tấn P, thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ gồm: trên nền bê tông trong nhà 02 (hai) gói nilon, hàn kín, kích thước (1,5x2) cm, bên trong đều chứa ma tuý đá; 01 (một) hộp bằng sắt dạng hình khối có kích thước (1x3x5) cm bên trong có 02 (hai) gói nilon, hàn kín, kích thước (1,5x2) cm, bên trong đều chứa ma tuý đá; phát hiện trong 01 túi vải màu đen được treo trên tường nhà bên trong gồm: 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (5x8) cm, bên trong chứa ma tuý đá; 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (4x4) cm, bên trong chứa ma tuý đá; 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (1,5x1,5) cm, bên trong viên nén là ma tuý đá; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) ống hút dài 9,5 cm được cắt xéo một đầu; 01 (một) kéo kim loại. Trên bàn trong nhà gồm 01 (một) bộ dụng sử dụng ma tuý đá dạng tự chế gồm 01 (một) chai nhựa có gắn nắp chai trên nắp có đục 02 lỗ gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh); 01 (một) quẹt gas; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, có gắn sim số: 0396.350.782; trên người Đặng Tấn P số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Đặng Tấn P thừa nhận số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền bán ma tuý có được, số ma tuý trên Cơ quan Công an thu giữ là của Đặng Tấn P, P mua của người đàn ông tên S1 (không rõ nhân thân, địa chỉ) ở khu vực xã X, huyện X với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) cất giấu với mục đích để bán lại cho những đối tượng nghiện ma tuý, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt; Các đồ vật, tài sản còn lại là các vật dụng để P chia nhỏ ma tuý, cất giấu ma tuý và để sử dụng ma tuý.

Quá trình điều tra xác định, Đặng Tấn P đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý tổng cộng 07 (bảy) lần, tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng), cụ thể:

  • Bán ma tuý cho Trần Ngọc A được 02 (hai) lần:
    • - Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 8 năm 2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) cho Trần Ngọc A, cách thức mua bán là trả bằng tiền mặt.
    • - Lần 2: Vào 21 giờ 00 phút ngày 18/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) cho Trần Ngọc A, cách thức mua bán là trả bằng tiền mặt.
  • Bán ma túy cho Lư Văn K được 02 (hai) lần:
    • - Lần 1: Vào khoảng 19 giờ ngày 15/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho K, cách thức mua bán là trả bằng tiền mặt.
    • - Lần 2: Vào khoảng 20 giờ ngày 18/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho K, cách thức mua bán là trả bằng tiền mặt.
  • Bán ma túy cho Lê Văn N được 03 (ba) lần:
    • - Lần 1: Vào lúc 18 giờ 12 phút ngày 16/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho N, cách thức mua bán là chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.
    • - Lần 2: Vào lúc 13 giờ 02 phút ngày 17/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho N, cách thức mua bán là chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.
    • - Lần 3: Vào lúc 14 giờ 18 phút ngày 18/9/2024, tại nhà Đặng Tấn P, P đã trực tiếp bán 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho N, cách thức mua bán là trả bằng tiền mặt.

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy (mẫu nước tiểu) Trần Ngọc A, Đặng Tấn P, Phạm Thị Bé H, Lư Văn K và Lê Văn N có kết quả dương tính với ma túy tổng hợp, loại Methaphetamine (ma túy đá).

* Vật chứng vụ án:

  • - Tạm giữ của Trần Ngọc A:
    • + 03 (ba) gói nilon được hàn kín bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý (trong đó: 01 gói nilon kích thước (3,5 x 2,5) cm; 02 gói nilon kích thước (01 x 2,5) cm), được niêm phong kí hiệu M.
  • - Tang vật tạm giữ của Đặng Tấn P:
    • + 04 (bốn) gói nilon, hàn kín, kích thước (1,5x2) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (5x8) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (4x4) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, ký hiệu M11; 01 (một) gói nilon, hàn kín, kích thước (1,5x1,5) cm, bên trong viên nén nghi là ma tuý, đã được niêm phong, kí hiệu M12.
    • + 01 (một) hộp bằng sắt dạng hình khối có kích thước (1x3x5)cm;
    • + 01 (một) cân điện tử; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) quẹt gas;
    • + 01 (một) ống hút dài 9,5 cm được cắt xéo một đầu;
    • + 01 (một) bộ dụng sử dụng ma tuý đá dạng tự chế (01 (một) chai nhựa có gắn nắp chai trên nắp có đục 02 lỗ gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh);
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, có gắn sim số: 0396.350.782 (đã qua sử dụng).
    • + Số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).
  • - Tang vật tạm giữ của Lư Văn K:
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh có gắn 02 sim số 0985.373.270 và 0378.766.198 (đã qua sử dụng).

* Tại Kết luận giám định số 1881/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,1444gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu tinh thể màu Trắng (mẫu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 14,4267gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu viên nén màu đỏ (mẫu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0794gam, loại Methamphetamine.
  • H1 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định. Mẫu vật sau giám định có khối lượng: M= 1,1116gam; M11= 14,2940gam; M12 đã sử dụng hết trong công tác giám định.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSXL ngày 24 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Đặng Tấn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Trần Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về tội danh và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đặng Tấn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đặng Tấn P từ 08 năm đến 09 năm tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trần Ngọc A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng theo quy định.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và lời khai của người tham gia tố tụng khác. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

[2.1] Vào lúc 13 giờ 20 phút, ngày 19/9/2024, tại quán C1, thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Ngọc A có hành vi tàng trữ 1,1444 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, nguồn gốc ma túy là do bị cáo mua của Đặng Tấn P. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Ngọc A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, bị cáo Đặng Tấn P có hành vi tàng trữ 14,5061 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời. Từ khoảng thời gian giữa tháng 08/2024 cho đến ngày 18/9/2024, bị cáo Đặng Tấn P đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện 07 lần với số lượng 07 tép ma túy, thu lợi bất chính tổng số tiền 2.300.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Tấn P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Trần Ngọc A và Đặng Tấn P là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trực tiếp đến tình hình an toàn trật tự, trị an xã hội, kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ tính chất, tác hại nguy hiểm của ma túy. Bởi, ma túy là tác nhân gây nên các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của nhiều gia đình và xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trên địa bàn dân cư. Nhưng bị cáo Trần Ngọc A vẫn mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, còn bị cáo Đặng Tấn P do mục đích hám lời, muốn kiếm tiền nhưng không muốn lao động chân chính đã mua ma túy về chia nhỏ thành từng tép để bán cho các con nghiện. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm và cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo Trần Ngọc A có con còn nhỏ. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với đối tượng tên S1 đã bán ma tuý cho Đặng Tấn P, do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau. Đối với Lư Văn K, Lê Văn N và Phạm Thị Bé H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện X đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, là phù hợp.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 1881/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng còn lại sau giám định: M=1,1116gam, M11=14,2940gam, M12 đã sử dụng hết trong công tác giám định. Đây là vật chứng của vụ án và là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành vì vậy tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) hộp bằng sắt dạng hình khối có kích thước (1x3x5)cm, 01 (một) cân điện tử, 01 (một) kéo kim loại, 01 (một) quẹt gas, 01 (một) ống hút dài 9,5 cm được cắt xéo một đầu, 01 (một) bộ dụng sử dụng ma tuý đá dạng tự chế gồm 01 (một) chai nhựa có gắn nắp chai trên nắp có đục 02 lỗ gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 (một) sim số 0396.350.782 thu giữ từ Đặng Tấn P. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng của Đặng Tấn P dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng) đang gửi tại tài khoản 39490103659800000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc ngày 25/12/2024. Đây là số tiền do Đặng Tấn P thu lời bất chính nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh có gắn 02 sim số 0985.373.270 và 0378.766.198 thu giữ của Lư Văn K. Quá trình điều tra xác định tài sản trên là của bà Nguyễn Thị Hạnh D, việc K mượn điện thoại sử dụng để liên lạc mua ma túy của Đặng Tấn P bà D không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện X đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà D là phù hợp.

[7] Đối với số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm ngàn đồng) do bị cáo Đặng Tấn P thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép chất ma túy, trong quá trình tố tụng đã thu giữ 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng), nên cần buộc bị cáo Đặng Tấn P tiếp tục giao nộp bổ sung số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Đặng Tấn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đặng Tấn P 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
    2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 1881/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 (một) hộp bằng sắt dạng hình khối có kích thước (1x3x5)cm; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) ống hút dài 9,5 cm được cắt xéo một đầu; 01 (một) bộ dụng sử dụng ma tuý đá dạng tự chế gồm: 01 (một) chai nhựa có gắn nắp chai trên nắp có đục 02 lỗ gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 (một) sim số 0396.350.782.
    • - Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc)
    • - Tịch thu sung công số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng) đang gửi tại tài khoản số 39490103659800000 tại K huyện X – Ngân hàng V của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Theo Giấy nộp tiền ngày 25/12/2024 tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh X, Đồng Nai.
    • - Buộc bị cáo Đặng Tấn P tiếp tục nộp số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng) là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào công quỹ Nhà nước.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Đặng Tấn P và bị cáo Trần Ngọc A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Đặng Tấn P và bị cáo Trần Ngọc A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND. T. Đồng Nai;
  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp T. Đồng Nai;
  • - Công an H. Xuân Lộc;
  • - VKSND H. Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS H. Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu AV, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hạ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Tân P và Trần Ngọc A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger