TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 27/2025/DS-PT Ngày: 12 – 02 – 2025 V/v “T/c quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Thọ
Ông Phạm Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 238/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Ngọc N; Địa chỉ Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Lê Tấn Đ; Địa chỉ Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Hồ Thanh N1; Địa chỉ Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Võ Hùng V; Địa chỉ khu vực E, phường T, thị xã N, tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân Hàng N3; Địa chỉ số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Ngân Hàng N3 - Chi nhánh huyện P.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thanh N2, Giám đốc Chi nhánh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Thanh T, Phó Giám đốc Chi nhánh; Địa chỉ ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh huyện P.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh T1, Giám đốc Chi nhánh; Địa chỉ Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Nguyễn Hoàng K, Chuyên viên khách hàng.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Hồ Thanh N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn có sử dụng phần đất 2.209,1m², tại ấp M, xã H, thuộc thửa 207, tờ bản đồ 91. Phần đất nguyên đơn giáp ranh với đất bị đơn Hồ Thanh N1. Trong quá trình sử dụng nguyên đơn trồng cây trên đất nguyên đơn thì bị đơn có hành vi ngăn cản, sau đó nguyên đơn kiểm tra lại số liệu đất được cấp giấy với diện tích thực tế thì xác định bị đơn lấn qua đất nguyên đơn ở đoạn trên khoảng 0,8 mét, ngang dưới là 3,4 mét, dài khoảng 86,6 mét. Tổng diện tích khoảng 181m².
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm diện tích khoảng 181m². Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đo đạc thực tế là 163,3m²; đồng thời thừa nhận 45 cây tràm rừng theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 05/02/2024 là của bị đơn trồng, yêu cầu bị đơn đốn các cây tràm để trả lại đất. Các cây cau là do nguyên đơn trồng.
Quá trình tố tụng bị đơn Hồ Thanh N1 trình bày: Thừa nhận có sử dụng phần đất giáp ranh với nguyên đơn, nguồn gốc là của bà nội để lại cho cha Hồ Văn C (Cha mất), sau đó bị đơn được thừa kế đứng tên toàn bộ diện tích 28.458m², tại trang số 4 Giấy chứng nhận số MT-0038 mà Uỷ ban nhân dân huyện đã cấp cho cha bị đơn vào năm 2002. Trong đó thửa đất 481 có diện tích 6.366m² là tiếp giáp với đất nguyên đơn, đất của nguyên đơn là do nhận chuyển nhượng của người khác, khi nguyên đơn lập thủ tục chuyển nhượng thì bị đơn không có ký tên giáp ranh. Vị trí tiếp giáp với nguyên đơn thì gia đình bị đơn trước đây có trồng một hàng cây tạp. Hiện nay vẫn còn gốc, phần này đã sử dụng ổn định từ xưa đến nay. Bị đơn xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 481 trên giấy đất do bị đơn đứng tên, do không có lấn đất nên bị đơn không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu nguyên đơn.
Quá trình tố tụng Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh huyện P có lời trình bày: Lê Ngọc N có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh huyện P để vay tiền. Từ khi vay đến nay thì chị N chưa vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay giữa chị N có phát sinh tranh chấp ranh đất với Hồ Thanh N1, phía ngân hàng không có yêu cầu gì đối với Lê Ngọc N trong vụ án này, khi nào chị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác.
Quá trình tố tụng Ngân Hàng N3 - Chi nhánh huyện P có lời trình bày: Hồ Thanh N1 có thế chấp cho A Chi nhánh huyện P một GCNQSDĐ số T 936514, diện tích 28.340,1m² tại ấp M, xã H để vay 420.000.000đ, tạm tính đến ngày 25/6/2024 Hồ Thanh N1 còn thiếu gốc và lãi 423.111.452đ. Qua làm việc được biết phần đất đang phát sinh tranh chấp tranh chấp ranh diện tích nhỏ so với diện tích đất đang thế chấp; Do đó, Ngân hàng xét thấy không ảnh hưởng lớn nên không yêu cầu giải quyết và yêu cầu không tham gia trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Ngọc N: Buộc bị đơn Hồ Thanh N1 có nghĩa vụ đốn tất cả các cây tràm có trên đất tranh chấp để trả lại Lê Ngọc N diện tích đất 163,3m² (Tại phần III theo Mảnh trích đo địa chính ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, có Mảnh trích đo địa chính kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, thẩm định và trích lục hồ sơ và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, bị đơn ông Hồ Thanh N1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc N về việc yêu cầu ông N1 trả lại diện tích đất 163,3m².
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện uỷ quyền của bị đơn ông Võ Hùng V yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang và cho rằng: Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng không đưa ông Đinh Thanh P là người chuyển nhượng đất cho nguyên đơn tham gia tố tụng; Khi đo đạc chỉ có bà Nguyễn Thị L là mẹ bị đơn mà không có mặt bị đơn; Chưa mô tả tài sản vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp rõ ràng; Cấp sơ thẩm căn cứ chứng cứ biên bản giáp ranh thời điểm ông Đinh Thanh P chuyển nhượng cho nguyên đơn làm cơ sở giải quyết vụ án là không giá trị pháp lý, vì thời điểm này bà L đã chuyển quyền cho bị đơn. Theo đại diện uỷ quyền của bị đơn, do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tại Điều 101, Điều 104, Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị huỷ án sơ thẩm; Do đó, không đề nghị về nội dung giải quyết.
Ông Lê Tấn Đ đại diện uỷ quyền của nguyên đơn không đồng ý với ý kiến trình bày của đại diện uỷ quyền của bị đơn và cho rằng phần đất của bị đơn có nguồn gốc là của vợ chồng bà Nguyễn Thị L tạo lập cho lại con là bị đơn sử dụng; khi nguyên đơn chuyển nhượng của Đinh Thanh P, bà L biết rõ nguồn gốc nên ký biên bản giáp ranh và ký biên bản xem xét thẩm định tại chổ là hợp lý, nên được xem là chứng cứ xác định ranh giới có giá trị pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Phần đất của nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ bà Đinh Thanh P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có diện tích 2.209,1m² thuộc thửa 207 có số đo cụ thể. Đối chiếu với diện tích sử dụng ổn định qua đo đạc thực tế là 2.016,7m², thì đất của nguyên đơn còn thiếu 192,4m². Sau khi cộng diện tích tranh chấp 163,3m² thì đất của nguyên đơn vẫn còn thiếu 29,1m². Phần đất của bị đơn nhận thừa kế từ cha là ông Hồ Văn C được cấp giấy chứng nhận, phần đất của bị đơn giáp với phần đất tranh chấp là tại thửa 481 nay là thửa 123 diện tích được cấp là 6.366m², bị thu hồi 117,9m², như vậy diện tích còn lại tại thửa 123 là 6.248,2m². Theo Mảnh trích đo số 115 thì phần đất tại thửa 123 diện tích là 6.322m² như vậy chưa tính phần diện tích tranh chấp thì đất của bị đơn dư 73,9m². Tổng các thửa đất 429, 481 và 495 của bị đơn theo giấy được cấp tổng diện tích 12.230,1m² (đã trừ diện tích thu hồi) đối chiếu với diện tích bị đơn sử dụng ổn định qua đo đạc thực tế là 12.284,6m² thì đất bị đơn thừa 54,5m², nếu cộng diện tích tranh chấp thì đất bị đơn tiếp tục thừa nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu sửa án sơ thẩm của bị đơn. Về yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, do quá trình thẩm định bị đơn không có mặt, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không tiến hành định giá cây trồng trên đất tranh chấp. Nhận thấy các lý do yêu cầu hủy án không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh huyện P là chưa đúng theo quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần điều chỉnh lại là Ngân hàng thương mại cổ phần S vì vậy tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 308 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn kháng cáo ngày 25 tháng 7 năm 2024, bị đơn ông Hồ Thanh N1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc N về việc yêu cầu ông N1 trả lại diện tích đất 163,3m²; Tuy nhiên tại phiên toà, ông Võ Hùng V đại diện uỷ quyền của bị đơn đề nghị huỷ án sơ thẩm không yêu cầu xem xét nội dung vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị huỷ án là yêu cầu tố tụng, không làm thay đổi nội dung kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét song hành hai yêu cầu này.
[1.1] Về yêu cầu hủy án sơ thẩm: Đối với căn cứ cho rằng không đưa bà Đinh Thanh P tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Lê Ngọc N đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất từ bà P sang cho bà N và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các bên không phát sinh tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của bà P không còn ảnh hưởng trong vụ án này nên không cần thiết đưa bà P tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[1.2] Đối với ý kiến cho rằng khi đo đạc chỉ có bà Nguyễn Thị L là mẹ bị đơn mà không có mặt bị đơn; Cấp sơ thẩm căn cứ chứng cứ biên bản giáp ranh thời điểm bà Đinh Thanh P chuyển nhượng cho nguyên đơn làm cơ sở giải quyết vụ án là không giá trị pháp lý: Nhận thấy, cấp sơ thẩm đã thực hiện thông báo thẩm tra xác minh tại chỗ đã gửi trực tiếp tới đương sự, nhưng bị đơn không chấp hành vẫn vắng mặt không lý do; Tuy nhiên tại thời điểm thẩm tra, xác minh đo đạc có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị L là mẹ của bị đơn và là người tạo lập ra phần đất tặng cho lại bị đơn nên việc có mặt của bà L chứng kiến chỉ ranh là đảm bảo điều kiện, tương tự thì việc bà L ký tên vào biên bản giáp ranh tại thời điểm bà P chuyển nhượng cho nguyên đơn cũng là cơ sở đối chiếu với các chứng cứ khác cấp sơ thẩm làm căn cứ giải quyết vụ án không vi phạm tố tụng.
[1.3] Đối với ý kiến cho rằng chưa mô tả cây trồng trên phần đất tranh chấp: Theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 04/02/2024 (bút lục 68), ngay sau phần nội dung có ghi nhận phần cây trồng trên phần đất tranh chấp do bà Lê Ngọc N sử dụng gồm Tràm rừng loại A 45 cây, C1 ăn trái loại C 60 cây; Như vậy ý kiến của đại diện theo ủy quyền của bị đơn không có cơ sở xem xét.
[2] Từ nội dung nhận định tại [1.1], [1.2], [1.3] không có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trong tố tụng để hủy án sơ thẩm theo yêu cầu của đại diện ủy quyền của bị đơn.
[3] Xét nội dung tranh chấp giữa các bên: Nguyên đơn có sử dụng phần đất 2.209,1m², tại ấp M, xã H, thuộc thửa 207, tờ bản đồ 91. Phần đất nguyên đơn giáp ranh với phần đất thửa đất 429, 481, 495 theo giấy là (thửa 222, 123, 140, 221 mới) có diện tích 12.348,1m² của Hồ Thanh N1. Các đương sự đều cho rằng phần đất tranh chấp 163,3m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của mình nên phát sinh tranh chấp. Qua xác minh, thẩm định ranh giới của các bên không có móc ranh, cột, cây trồng mương rãnh mang tính lịch sử chứng minh ranh giới, nên cấp sơ thẩm căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên đối chiếu với Mảnh trích đo địa chính số 115/2024, ngày 22/3/2024 của chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất Đai huyện P (gọi tắt mảnh trích 115) làm căn cứ giải quyết là phù hợp.
[4] Căn cứ GCNQSĐĐ số vào sổ cấp GCN: MT-0038 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 12 tháng 6 năm 2002 cấp cho ông Hồ Văn C và đã được CNVPĐKĐĐ huyện Phụng Hiệp chỉnh lý biến động tại trang 4, ngày 20 tháng 9 năm 2018 thì phần đất của bị đơn Hồ Thanh N1 nhận thừa kế từ ông C tại các thửa 429, 481 và 495 là phần diện tích có liên quan đến đất tranh chấp có tổng diện tích 12.348,1m²; Trong đó, ngày 18/7/2018 bị thu hồi mở rộng Tỉnh lộ 928 diện tích 117,9m². Tổng diện tích còn lại theo giấy là 12.230,1 m². Đối chiếu với theo Mảnh trích 115 thì diện tích ông N1 sử dụng ổn định qua đo đạc thực tế 12.284,3m² (cấp sơ thẩm nhận định diện tích qua đo đạc thực tế là 12.284,6m² là chưa đúng nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại) chưa tính diện tích tranh chấp, thì đất của bị đơn còn thừa 54,2m²; Nếu cộng diện tích tranh chấp 163,3m² thì đất bị đơn tiếp tục thừa 217,5m².
[5] Đối phần đất của nguyên đơn: Phần đất của nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ giấy của Đinh Thanh P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS03539 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 18 tháng 11 năm 2022, được CNVPĐKĐĐ huyện Phụng Hiệp chỉnh lý biến động ngày 19 tháng 11 năm 2022, tại trang 3, thuộc số thửa 207 có diện tích 2.209,1m². Đối chiếu với theo Mảnh trích 115 thì diện tích nguyên đơn sử dụng ổn định qua đo đạc thực tế 2.016,7m² chưa tính diện tích tranh chấp, thì đất của nguyên đơn còn thiếu 192,4m²; Sau khi cộng diện tích tranh chấp 163,3m² vào diện tích ổn định thì đất nguyên đơn vẫn còn thiếu 29,1m².
Từ những nhận định trên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn Hồ Thanh N1 và yêu cầu huỷ án của đại diện uỷ quyền của bị đơn. Có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 99, Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của Hồ Thanh N1 về việc bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc N và và yêu cầu bổ sung tại phiên toà đề nghị huỷ án sơ thẩm.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bị đơn Hồ Thanh N1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng); Chuyển 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0006999 ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Những nhận định và quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật theo quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã tuyên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 12 tháng 02 năm 2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 27/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn ông Hồ Thanh N1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc N về việc yêu cầu ông N1 trả lại diện tích đất 163,3m2
