Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 10 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lý Quang Minh;
  2. Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS, ngày 12/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS, ngày 26/11/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hàng A D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 21/7/1997, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hàng A L, sinh năm 1975; mẹ đẻ: Sùng Thị T, sinh năm 1975; vợ: Sùng Thị M, sinh năm 2002; bị cáo có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo là bí thư chi đoàn bản Dền Sang, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hàng A L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 04/6/1975, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hàng A T1, đã chết; mẹ đẻ: Giàng Thị N, đã chết; bị cáo

ngày 14/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Hàng A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 25/7/1999, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản Dền Thàng B, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hàng A H, sinh năm 1970; mẹ đẻ: Giàng Thị D1, sinh năm 1972; vợ: Giàng Thị P1, sinh năm 2001; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Hàng A S, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 11/7/1994, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản Dền Thàng B, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hàng A H, sinh năm 1970; mẹ đẻ: Giàng Thị D1, sinh năm 1972; vợ: Lừu Thị L1, sinh năm 1996; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Giàng A Đ, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, có mặt;

Người làm chứng: Chị Sùng Thị M, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt;

Anh Hàng A C, sinh năm 2000, địa chỉ: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;

Anh Phàn Văn T2, sinh năm 1989, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;

Anh Phàn A L2, sinh năm 1972, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;

Anh Giàng A S1, sinh năm 1980, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Giàng A Đ và chị Sùng Thị M quen biết nhau từ tháng 8 năm 2023. Khoảng 07 giờ sáng ngày 10/5/2024, M đi xuống thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu làm giấy thông hành, M gọi điện rủ Đ xuống thị trấn P cùng ăn cơm trưa. Đ đồng ý rồi điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11 (mượn của Hảng Anh D2 sinh năm 1985, trú tại bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu) đi gặp M. Trước khi đi, Sùng Thị M có nói với chồng là Hàng A D về việc đi làm giấy thông hành tại thị trấn P, nhưng không nói về việc gặp Giàng A Đ. Nghi ngờ M có quan hệ tình cảm với người khác nên D rủ Hàng A L (bố đẻ của D), Hàng A P, Hàng A C, Hàng A S, Hàng A G đi tìm M. Lùng, P, C, G, S đồng ý. Phàng

tên T3, không rõ họ tên, địa chỉ, chở G cùng đi hướng về thị trấn P. Trên đường đi, D gọi điện nhờ G mua 01 đoạn dây thừng dài khoảng 02m, Già đồng ý. Khoảng 11 giờ, ngày 10/5/2024, khi đi đến gần ngã ba M, xã M, huyện P thì nhóm của D gặp xe ô tô của Đ chở M dừng ở lề đường. D bảo P điều khiển xe ô tô lên trước chặn đầu xe ô tô của Đ. Diếu kéo Đ ra khỏi xe, dùng tay tát vào mặt Đ và nói: Mày không tôn trọng tao, sao lại làm thế với tao. Do bực tức, L, P, S, G cũng đi tới dùng tay tát Đ. Diếu yêu cầu Đ lên xe ô tô đi về nhà D ở xã D, huyện P để giải quyết, Đ không đồng ý. Lùng lấy đoạn dây thừng ra nói: Nếu không lên thì trói đưa về nhà. Do lo sợ bị đánh và trói nên Đ đồng ý đi lên xe ô tô. Khi mọi người đánh Đ, Cu can N1 và bảo “đừng đánh” nhưng không ai nghe. Sau đó, C điều khiển xe mô tô của S đi về trước. Già điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11 chở Đ và S, P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 22A-236.57 chở L và M, D điều khiển xe mô tô của M đi từ xã M hướng về xã D Khoảng 12 giờ, ngày 10/5/2024, khi đi đến bản N, xã B, huyện P, Đ sợ lên nhà D sẽ tiếp tục bị đánh nên Đ giật phanh tay xe ô tô rồi mở cửa xe chạy ra ngoài. Lúc này, D, L, P, S, G cùng xuống xe đuổi theo Đ. Diếu nhặt một đoạn gậy gỗ dọa Đ đồng thời dùng tay tát vào mặt Đ; L dùng một đoạn gậy gỗ vụt 02 phát vào người Đàng. Phàng, S, G dùng tay đấm, tát Đàng. Sau đó, 05 người cùng kéo Đ lên xe ô tô nhưng không được. Thấy vậy, L lấy đoạn dây thừng mà G mua lúc trước rồi cùng D, P, S, Già khống chế trói tay, khiêng Đ từ ngoài đường lên hàng ghế sau xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11. Khi lên xe, lợi dụng sơ hở, Đ cởi dây trói rồi mở cửa chạy vào nhà Giàng A S1 ở gần đó. Sử đã gọi điện báo sự việc tới Công an xã B. Quá trình điều tra, xã H, H, Hàng A P, Hàng A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 85/KLTTCT-TTPYLC, ngày 22/5/2024, của Trung tâm P2 - Sở Y tế tỉnh L, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Vùng thái dương phải còn sưng nề nhẹ.
  • - Vùng ngực: 1/3 giữa xương đòn trái có 01 đám biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước dài 10,5cm dài 0,5cm.
  • - Môi dưới bên trái có vết biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước dài 1,1cm rộng 0,6cm.
  • - 1/3 giữa mặt trước trong cánh tay phải có vết biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước dài 1,6cm rộng 0,8cm.
  • - 1/3 giữa mặt trước ngoài có vết biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước dài 10,5cm rộng 0,6cm. Vận động các tư thế tay phải bình thường.
  • - 1/3 dưới mặt sau cẳng tay trái có vết biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước dài 7cm rộng 0,7cm. Vận động các tư thế tay trái bình thường.

2. Kết Luận:

2.1 Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y

thể Giàng A Đ do vật tày tác động trực tiếp gây nên.”

Ngày 10/6/2024, Cơ quan điều tra sao lưu tệp tin video ghi lại diễn biến vụ việc trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Y01 của chị Lý Tả M1, sinh năm 1986. Tại Kết luận giám định số: 1027/KL-KTHS, ngày 21/08/2024, của Phòng K - Công an tỉnh L, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong một tệp tin video gửi giám định.

Trong giai đoạn truy tố, ngày 30/10/2024, Giàng A G1 bị chết do tai nạn trong quá trình làm việc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Giàng A G1.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ của Hảng A: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11. Tạm giữ của Hàng A Dớ: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 22A-236.57. Thu giữ của Hàng A D: 01 đoạn gậy gỗ hình trụ tròn, màu nâu có kích thước dài 1,1m, đường kính 6,5cm. Thu giữ của Hàng A L: 01 đoạn gậy gỗ hình trụ tròn, màu nâu có kích thước dài 1,14m, đường kính 03cm. Thu giữ tại hiện trường 03 chiếc cúc áo. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc xe ô tô cho các chủ sở hữu hợp pháp là Hảng Anh D2, Hàng A D3. Đối với đoạn dây thừng các bị cáo dùng để trói Giàng A Đ bị rơi trong quá trình bắt, giữ. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy. Đối với chiếc xe mô tô Hàng A S chở Hàng A, S khai mượn của người đàn ông tên T3 không rõ tên, địa chỉ. Ngày 11/5/2024, S đã trả chiếc xe trên cho T3, hiện S không biết T3 đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra không tạm giữ được chiếc xe mô tô.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 02 đoạn gậy gỗ; 03 cúc áo.

* Phần dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Giàng A Đ số tiền 40.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 117/CT-VKSPT, ngày 12 tháng 11 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Hàng A D, Hàng A L, Hàng A P, Hàng A S về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Hàng A D, Hàng A L, Hàng A P, Hàng A S phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 157; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 36, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hàng A D từ 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Hàng A L từ 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Hàng A P từ 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm, 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Hàng A S từ 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm, 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của các bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp

giám định) tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án. Đối với 02 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11 và 22A-236.57, cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho các bị cáo.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại trình bày lời khai về sự việc xảy ra đúng như lời khai của các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã được nhận tiền bồi thường của các bị cáo nên không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt, bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, được thu thập theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản sự việc, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 12 giờ ngày 10/5/2024, Hàng A D, Hàng A L, Hàng A P, Hàng A S đã cùng nhau dùng tay đánh, khống chế buộc Giàng A Đ phải lên xe ô tô rồi đi từ đoạn đường km7+600, thuộc bản N, xã M về bản N, xã B, huyện P. Khi đến bản N, Đ mở cửa xe bỏ chạy. Diếu, L, P, S tiếp tục dùng tay, gậy gỗ đánh và dùng dây thừng trói, khiêng Đàng từ đường lên xe ô tô, mục đích để đưa Đ về xã D, huyện P làm rõ việc Đ gặp gỡ Sùng Thị M.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy

người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã chủ động báo sự việc đến cơ quan công an. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, không có sự câu kết chặt chẽ, các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi bắt giữ người trái pháp luật, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá, phân hóa vai trò phạm tội đối với mỗi bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật, mục đích thực hiện hành vi phạm tội là để gìn giữ hạnh phúc gia đình cho bị cáo D, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội nhưng cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để giám sát, giáo dục các bị cáo. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 4 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Những vấn đề có liên quan trong vụ án:

Quá trình tham gia bắt giữ Giàng A Đ có Hàng A G cùng tham gia với các bị cáo. Tuy nhiên, trong giai đoạn truy tố, ngày 30/10/2024, Giàng A G1 bị chết do tai nạn trong quá trình làm việc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can G1.

Đối với Hàng A C là người đi cùng Hàng A D và những người khác. Trước khi đi, D chỉ nói với C là đi xem Sùng Thị M có quan hệ tình cảm với người khác không. Quá trình D cùng các bị cáo dùng tay đánh, buộc Đ phải lên xe ô tô, C không tham gia việc đánh, bắt giữ Đ và có hành vi can ngăn nên Hàng A C không phải là đồng phạm trong vụ án.

Đối với Hàng A D3 là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 22A-236.57. Dớ cho D mượn xe để làm phương tiện đi lại mà không biết việc Hàng A D sử dụng

tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% (dưới 31%). Sau khi bị bắt giữ, bị đánh Giàng A Đ không bị ảnh hưởng về sức khỏe, không bị rối loạn tâm thần và hành vi nên các bị cáo không phạm tội theo tình tiết định khung tại điểm h khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Giàng A Đ không yêu cầu khởi tố các bị cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các vật chứng gồm: 02 đoạn gậy gỗ; 03 cúc áo và vỏ gói niêm phong đều là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 đĩa DVD chứa 01 tệp tin video (hoàn lại sau giám định) tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án. Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.11 và chiếc xe ô tô biển kiểm soát 22A-236.57, cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Các bị cáo Hàng A D, Hàng A L, Hàng A P, Hàng A S phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 157, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 36, 58 của Bộ luật Hình sự:

  • - Xử phạt bị cáo Hàng A D: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Xử phạt bị cáo Hàng A L: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Xử phạt bị cáo Hàng A P: 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Xử phạt bị cáo Hàng A S: 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện P, tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn gậy gỗ; 03 chiếc cúc áo; vỏ gói niêm phong.

Đối với 01 đĩa DVD chứa 01 tệp tin video (hoàn lại sau giám định) tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 00 phút, ngày 28/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị, bị hại cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thô
  • (CQĐT, THAHS);
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về bắt, giữ người trái pháp luật (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội bắt giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger