Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 05-12-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ái.
Bà Nguyễn Hoài Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Giàng Minh Lúa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 21/11/2024 đối với bị cáo:

Giàng A L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1980; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện V, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A T, sinh năm 1952 (đã chết) và con bà: Thào Thị T1, sinh năm 1954; có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ: Thào Thị D, sinh năm 1979 (đã chết) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Ngày 05/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).

Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị L1 - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C - Viên chức Ban quản lý (Có mặt).

Người làm chứng:

  • + Ông Hầu Thìn S; sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện V, tỉnh Hà Giang (Văng mặt).
  • + Ông Lò Văn L2; sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 02/8/2024 Công an xã Y, huyện B phối hợp với các ngành chức năng tuần tra phát hiện bắt quả tang các đối tượng Giàng A L, Hầu Thìn S, Lò Văn L2 đang có hành vi khai thác lâm sản trái phép tại khu vực rừng phòng hộ thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. Xét không thuộc thẩm quyền giải quyết, ngày 03/8/2024 Công an xã Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng các đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Các đối tượng khai nhận như sau: Vào khoảng tháng 10/2018 (không nhớ rõ ngày) trong khi làm nương Giàng A L phát hiện 01 cây gỗ Nghiến còn tươi, sống có đường kính gốc khoảng 70cm, cao khoảng 30 mét tại khu rừng phòng hộ thuộc địa phận thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. Lành nảy sinh ý định chặt đổ cây gỗ Nghiến để làm quang khu đất, thuận tiện cho việc làm nương nên đã mang theo 01 máy cưa xăng nhãn hiệu FUJIKAWA KANTA 088, màu cam đen, lam xích dài 80cm đổ đầy dầu nhớt, 01 con dao quắm đi bộ từ nhà đến vị trí cây gỗ N và dùng máy cưa xăng cắt gốc cây gỗ Nghiến trong khoảng 01 giờ thì cây đổ, sau khi cây đổ L không khai thác để tại hiện trường rồi đi về nhà.

Đến ngày 31/7/2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên L đã nảy sinh ý định đi khai thác cây gỗ Nghiến trên để làm thớt bán, đồng thời L rủ S, L2 cùng tham gia và được cả hai đồng ý.

Khoảng hơn 17 giờ ngày 01/8/2024, L mang theo 01 máy cưa xăng nhãn hiệu FUJIKAWA KANTA 088, màu cam đen kèm theo lam xích, 01 con dao quắm dài 60cm, 01 đoạn thước cuộn màu vàng, 01 chiếc đèn pin màu tím, 01 can nhựa đựng xăng; 01 can nhựa đựng nhớt và Hầu Thìn S mang theo 01 máy cưa xăng không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh trắng, lam xích dài 80cm, 01 con dao tông dài 43cm, 01 thanh mài bằng kim loại, màu đen dài 24cm đi khai thác gỗ Nghiến, còn Lò Văn L2 bận việc nhà nên không tham gia. Cả hai đi bộ từ nhà L trong khoảng 01 giờ thì đến vị trí cây gỗ Nghiến, sau đó cả hai thay nhau dùng máy cưa xăng cắt rời 01 (một) khúc gỗ dài khoảng 2,70 mét, phát hiện phần thân giáp ngọn bị nứt tâm không thể xẻ làm thớt nên không cắt khúc tiếp theo mà thống nhất xẻ khúc gỗ vừa cắt xong, sau đó cả hai tiến hành xẻ thớt thu được 19 (Mười chín) cục dạng thớt kích thước 40x6cm thì nghỉ rồi cất máy cưa xăng, các đồ vật mang theo rồi quay về nhà L ngủ.

Đến khoảng 17 giờ ngày 02/8/2024, L cùng S và L2 đi bộ từ nhà L đến vị trí cây gỗ N đã khai thác trước đó, đến nơi L và S dùng hai máy cưa xăng tiếp tục xẻ khúc gỗ trước đó đang khai thác dở thành các cục gỗ dạng thớt có kích thước 40x6cm và 35x5cm, L2 dùng dao đẽo được 10 (Mười) cục thớt tròn. Khi cả ba đang khai thác gỗ thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang đồng thời tiến hành thu giữ tang vật đưa về Công an xã Y, huyện B để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/8/2024 xác định cây gỗ Nghiến có ký hiệu G01 do Giàng A L cắt đổ vào tháng 10/2018 có tọa độ E

00461249; N 02518518 thuộc lô e, khoảnh 5 tiểu khu A. Đối tượng rừng: Thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên (Theo bản đồ quy hoạch 3 loại rừng năm 2018 được U) do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, cây gỗ có tổng khối lượng 10,828m³ (Mười phảy tám hai tám mét khối), còn lại tại hiện trường 10,571m³ (Mười phẩy năm bảy một mét khối), hiện số gỗ trên tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.

Ngày 13/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 213 gửi Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc V, trưng cầu 02 (Hai) mẫu gỗ thu tại hiện trường ký hiệu: A1, A2 thu được trong quá trình khám nghiệm.

Tại bản kết luận số 665/CNR-VP ngày 20/8/2024 Viện nghiên cứu công nghiệp rừng đã kết luận tên và nhóm gỗ bị thiệt hại của 02 mẫu gỗ gửi giám định cụ thể như sau:

Mẫu ký hiệu A1, A2 đồng nhất về chủng loại. Tên gỗ: Nghiến, tên khoa học: Burretiodendron tonkinense nhóm gỗ: II.

Loài N được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm” ban hành kèm theo nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTTHS, ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 cây gỗ Nghiến do Giàng A L cắt đổ khai thác có tổng khối lượng là 10,828m³ (Mười phảy tám hai tám mét khối) có giá trị là 108.158.700đ (Một trăm linh tám triệu, một trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm đồng); 29 (Hai mươi chín) cục gỗ Nghiến nhóm IIA dạng thớt có khối lượng 0,234m³ (Không phẩy hai trăm ba mươi tư mét khối) quy tròn 0,374m³ (Không phảy ba trăm bảy mươi tư mét khối) có giá trị là 3.740.000đ (Ba triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ: + 01 (Một) cây gỗ Nghiến có tổng khối lượng 10,828m³ (Mười phảy tám hai tám mét khối) gỗ còn lại tại hiện trường 10,197m³ (Mười phảy một chín bảy mét khối) đã tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang quản lý.

  • + 29 (Hai mươi chín) cục thớt có tổng khối lượng 0,374m³ (Không phẩy ba bảy bốn mét khối) gỗ còn lại tại hiện trường đã tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang quản lý.
  • + 01 (Một) Máy cưa xăng trên máy ghi nhãn hiệu FUJIKAWA KANTA 088, màu sơn cam đen, lam, xích dài 80cm đã tháo rời máy (Cũ, bẩn đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong);
  • + 01 (Một) Con dao quắm dài 60cm cả chuôi dao, chuôi bằng gỗ dài 23cm, bản rộng nhất 05cm, (Dao cũ đã qua sử dụng);
  • + 01 (Một) Đèn pin màu tím, có dây đeo màu đen (đã qua sử dụng);
  • + 01 (Một) Thước đo loại 5 mét, màu vàng (đã qua sử dụng).

Đối với số gỗ Nghiến còn lại trong quá trình cắt xẻ gỗ đã tạo thành mùn cưa và rơi xuống ta luy âm nguy hiểm không thể đo đạc nên không thu hồi được.

Đối với 02 can nhựa đựng nhớt và xăng để khai thác gỗ, sau khi sử dụng L đã

vứt trên rừng không rõ vị trí, nên không truy thu được.

Đối với 01 máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn xanh trắng, lam, xích đã tháo dời máy dài 80cm, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 con dao tông dài 43cm cả chuôi dao, chuôi bằng gỗ dài 13cm, bản rộng nhất 06cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 thanh mài bằng kim loại, màu đen dài 24cm đã qua sử dụng của Hầu Thìn S, Cơ quan CSĐT đã chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B không yêu cầu bị cáo bồi thường do bị cáo và các đối tượng chưa vận chuyển gỗ ra khỏi hiện trường.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSBM ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Giàng A L về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa, trên cơ sở phân tích các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Giàng A L phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  • Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A L từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 05/9/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) cây gỗ Nghiến có tổng khối lượng 10,828m³ (Mười phảy tám hai tám mét khối) gỗ còn lại tại hiện trường 10,197m³ (Mười phảy một chín bảy mét khối); 29 (Hai mươi chín) cục thớt có tổng khối lượng 0,374m³ (Không phẩy ba bảy bốn mét khối) gỗ còn lại tại hiện trường.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Máy cưa xăng trên máy ghi nhãn hiệu FUJIKAWA KANTA 088, màu sơn cam đen, lam, xích dài 80cm đã tháo rời máy (Cũ, bẩn đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (Một) Con dao quắm dài 60cm cả chuôi dao, chuôi bằng gỗ dài 23cm, bản rộng nhất 05cm, (Dao cũ đã qua sử dụng); 01 (Một) Đèn pin màu tím, có dây đeo màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) Thước đo loại 5 mét, màu vàng (đã qua sử dụng).

  • Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, miễn toàn bộ tiền án phí hình sự cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc

truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 2 Điều 232 BLHS là đúng người, đúng tội. Xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ đã chết nên phải một mình nuôi con, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trước khi phạm tội có nhân thân tốt. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung và án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa và không có tranh luận đối đáp gì.

Đại diện nguyên đơn dân sự nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên và không có tranh luận đối đáp gì.

Đại diện Viện kiểm sát không nhất trí quan điểm của người bào chữa, giữ nguyên quan điểm luận tội.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin được áp dụng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Những người làm chứng không có lý do. Xét thấy bị cáo, người bào chữa, đại diện nguyên đơn dân sự, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai những người làm chứng nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng của vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 10 năm 2018, Giàng A L có hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng là 10,828m³ (Mười phảy tám hai tám mét khối) có giá trị là 108.158.700đ (Một trăm linh tám triệu một trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm đồng), đến đầu tháng 8 năm 2024 L đã cùng Hầu Thìn S và Lò Văn L2 cắt xẻ cây gỗ Nghiến trên được 29 (Hai mươi chín) cục gỗ dạng thớt có khối lượng 0,374m³ (Không phẩy ba bảy bốn mét khối) mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị lực lượng chức năng

phát hiện bắt quả tang. Vị trí khai thác thuộc lô e, khoảnh 5, tiểu khu A địa phận thôn N, xã Y, huyện B; loại rừng phòng hộ là rừng tự nhiên theo bản đồ quy hoạch 3 loại rừng năm 2018 do UBND tỉnh H phê duyệt, do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B là chủ quản lý. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Điều 232 Bộ luật hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

...d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 15 mét khối (m³) đến dưới 30 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc 10 mét khối (m³) đến dưới 20 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA...”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; tác động xấu đến môi trường sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và làm suy giảm chức năng che phủ của rừng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn một mình cắt hạ 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA thuộc rừng phòng hộ gây thiệt hại là 108.158.700đ (Một trăm linh tám triệu một trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm đồng) và sau đó đã cùng S và Liều cắt xẻ thành các cục gỗ dạng thớt mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đồng thời đảm bảo được tính nhân đạo của pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của địa phương, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, hiện là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó HĐXX cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

[6] Bị cáo Giàng A L đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối

với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với 10,197m³ (Mười phảy một chín bảy mét khối) gỗ N và 29 cục thớt Nghiến có khối lượng 0,374m³ còn lại tại hiện trường cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 01 máy cưa xăng FUJIKAWA KANTA 088 kèm theo lam xích, 01 con dao quắm; 01 đèn pin; 01 thước đo là công cụ phạm tội hiện đã hư hỏng, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[8.2] Đối với 02 can nhựa đựng nhớt, xăng và số gỗ Nghiến còn lại không thu hồi được, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8.3] Đối với 01 máy cưa xăng lam, xích đã tháo dời; 01 con dao tông; 01 thanh mài của Hầu Thìn S, Cơ quan CSĐT đã chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường do bị cáo và các đối tượng chưa vận chuyển gỗ ra khỏi hiện trường. Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Trong vụ án này còn có các đối tượng và hành vi liên quan như sau: Đối với Hầu Thìn S, Lò Văn L2 có hành vi khai thác gỗ N cùng bị cáo L, trong đó S tham gia khai thác được 29 (Hai mươi chín) cục thớt tổng khối lượng là 0,374m³ (Không phẩy ba trăm bảy mươi tư mét khối); Liều tham gia khai thác được 10 (Mười) cục thớt tổng khối lượng là 0,241m³ (Không phẩy hai trăm bốn mươi mốt mét khối) nhưng đều chưa đến mức xử lý hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển hồ sơ và tang vật liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí: Bị cáo Giàng A L là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Từ những căn cứ trên đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[13] Người bào chữa cho bị cáo đề nghị về mức án là 24 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[14] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Giàng A L 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 05/9/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Không.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) Cây gỗ Nghiến đã bị cắt đổ có khối lượng còn lại tại hiện trường là 10,197m³ (Mười phẩy một chín bảy mét khối); 29 (Hai mươi chín) Cục gỗ tròn dạng thớt có tổng khối lượng còn lại tại hiện trường 0,374 m³ (Không phẩy ba bảy bốn mét khối).

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Máy cưa xăng trên máy ghi nhãn hiệu FUJIKAWA KANTA 088, màu sơn cam đen, lam, xích dài 80cm đã tháo rời máy (Cũ, bẩn đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (Một) Con dao quắm dài 60cm cả chuôi dao, chuôi bằng gỗ dài 23cm, bản rộng nhất 05cm, (Dao cũ đã qua sử dụng); 01 (Một) Đèn pin màu tím, có dây đeo màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) Thước đo loại 5 mét, màu vàng (đã qua sử dụng).

(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

5. Về trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Giàng A L được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện + tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; trợ giúp viên pháp lý;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hoàng Văn Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng A L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger