Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

Ông Hồ Thế Vinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Ngọc Minh- Kiểm sát viên.

Ông Trần Á- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn V, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; thẻ CCCD: [...], cấp ngày 05/7/2021; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Lê Thị B; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Từ nhỏ sống cùng bố mẹ tại Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học đến lớp 05/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày gây án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2024, chuyển tạm giam ngày 19/03/2024, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Viết T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Anh Đặng Vũ Trường L, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/03/2024, do muốn sử dụng ma túy nên Trần Văn V nhờ Nguyễn Viết T1 dùng xe mô tô biển số 75H1-076.82 chở đến phường T, thành phố H để mua ma túy sử dụng (V không nói cho T1 biết là đi mua ma túy). Khi đến khu vực phường T, Trần Văn V sử dụng điện thoại gọi cho Đặng Vũ Trường L để hỏi mua ma túy dạng đá thì L đồng ý. Sau khi thống nhất thì V dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản của Đặng Vũ Trường L (trong đó số tiền: 1.100.000 đồng là số tiền mua ma túy, số tiền 400.000 đồng là tiền mua ma túy V còn nợ của L). L hẹn V đến khu vực đường H, thuộc Tổ dân phố H, phường T, thành phố H để giao nhận, ma túy. Khi đến nơi thì T1 dùng xe ở gần đó còn V đi bộ đến lấy ma túy dạng đá từ L. Sau đó, T1 chở V về khu vực Miệu của Xóm D, thôn K, xã P, huyện P để ngồi chơi, lúc này V lấy dụng cụ để sử dụng ma túy thì dụng cụ đã bị hư hỏng nên V cất giấu túi nilong có chứa ma túy vào phía sau ốp lưng điện thoại của V. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/03/2024, Công an xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế mời Trần Văn V làm việc liên quan nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Qua trình làm việc với Trần Văn V, Công an xã P phát hiện bắt quả tang Trần Văn V đang tàng trữ 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng để ở bên trong ốp lưng điện thoại của Trần Văn V, theo đối tượng khai nhận đó là ma túy dạng đá. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn V Cơ quan điều tra không thu giữ gì thêm.

Tại bản Kết luận giám định số 181/GD ngày 18/3/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,2752 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 75H1-076.82. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn T.
  • + 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, sau khi giám định đã hoàn lại 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Trần văn V1, bắt ngày 14/4/2024"
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A78, màu đen, số Imei 1: 869008060792911, số Inei 2: 869008060792903, có gắn thẻ sim Mobiphone số: 0787.983.xxx, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen bên trong có chữ Oppo.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSPV ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, sau khi giám định đã hoàn lại 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Trần văn V1, bắt ngày 14/4/2024"; 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen bên trong có chữ Oppo;
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A78, màu đen, số Imei 1: 869008060792911, số Inei 2: 869008060792903, có gắn thẻ sim Mobiphone số: 0787.983.xxx, đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo Trần Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Lúc 10 giờ ngày 14/3/2024, Trần Văn V có hành vi tàng trữ 01 (một) túi nilong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, có khối lượng 0,2752g là ma túy loại Methamphetamine vào ốp điện thoại của bị cáo nhằm mục đích sử dụng, đã bị Công an xã P, huyện P phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trần Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo Trần Văn V về hành vi phạm tội như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Trần Văn V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ quyền độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, làm phát sinh các loại tội phạm khác nên cần thiết phải xử lý thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Trần Văn V không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo Trần Văn V ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về xử lý vật chứng: Ma túy là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, sau khi giám định đã hoàn lại 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Trần văn V1, bắt ngày 14/4/2024". Đối với 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen bên trong có chữ Oppo, là công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A78, màu đen, số Imei 1: 869008060792911, số Inei 2: 869008060792903, có gắn thẻ sim Mobiphone số: 0787.983.xxx, đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Căn điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giữ 14/3/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, sau khi giám định đã hoàn lại 01 (một) gói niêm phong kín bằng giấy trắng băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H mẫu vật vụ Trần văn V1, bắt ngày 14/4/2024"; 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen bên trong có chữ Oppo.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A78, màu đen, số Imei 1: 869008060792911, số Inei 2: 869008060792903, có gắn thẻ sim Mobiphone số: 0787.983.xxx, đã qua sử dụng.

    Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND tỉnh TT-Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Vang;
  • - CQĐT Công an huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2 năm 3 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger