TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 27/2024/DSST Ngày 24 - 9-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến
Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hồng
Ông Hoàng Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐ - ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1).
- Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Đại diện theo uỷ quyền: Công ty TNHH một thành viên Q và khai thác tài sản ngân hàng TMCP S (SAB); Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người được uỷ quyền lại: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1900; trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, người đại diện cho nguyên đơn trình bày: Ngày 18/4/2018, bà Lê Thị H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà H, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng các nhân loại thẻ tín dụng Visa Lady First, số thẻ 486265-3891, lãi suất 2,6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 951.856.853 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 906.111.937 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) sau đó không thanh toán nên số nợ còn là 55.128.439 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm điều khoản thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), ngày 01/3/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dự nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Sau đó bà H thanh toán thêm số tiền 5.000.000 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu bà H phải trả: dư nợ gốc: 50.128.439 đồng; lãi quá hạn tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 111.090.723 đồng. Tổng cộng là 161.219.162 đồng và bà H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn bà Lê Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình
nhưng bà H không có mặt tại địa phương nên Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 50.128.439 đồng; tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 111.090.723 đồng. Tổng cộng là 161.219.162 đồng và lãi phát sinh
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thảo luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/4/2018, bị đơn bà Lê Thị H có 02 địa chỉ: địa chỉ hiện tại: 861/27/40 T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã Đ, T, Thái Bình. Tại kết quả xác minh của công an phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh thì bà Lê Thị H, sinh năm 1990 không có hộ khẩu thường trú, không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ 8 T, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh ngày 09/5/2024 tại công an xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình thì bà Lê Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện thực tế cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Kết quả xác minh ngày 07/8/2024 tại UBND xã Đ thể hiện bà Lê Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã Đ, huyện T nhưng thực tế không sinh sống tại xã Đ. Như vây, bị đơn bà Lê Thị H không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật làm cho người khởi kiện không biết địa chỉ nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện nên căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Do bị đơn bà Lê Thị Hồng cư T1 tại xã Đ, huyện T, căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tiền Hải.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Lê Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp như: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng), Tóm tắt sao kê đối với khách hàng bà Lê Thị H, có căn cứ xác định bà Lê Thị H vay ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng và đã được ngân hàng phê duyệt cấp tín dụng vào ngày 18/4/2018, mục đích tiêu dùng cá nhân; phương thức cho vay: việc cho vay được thực hiện bằng phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, loại thẻ tín dụng Visa Lady First, số thẻ 486265-3891, hạn mức 50.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng, lãi quá hạn 3,9%. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 951.856.853 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 906.111.937 đồng. Thứ tự thanh toán được áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/3/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 55.128.439 đồng sang quá hạn. Sau khi thẻ bị quá hạn, bà H có thanh toán thêm vào thẻ 05 lần với tổng số tiền là 5.000.000 đồng, nên hiện dư nợ gốc còn lại là 50.128.439 đồng. Xét, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của bà Lê Thị H với Ngân hàng, các bên tham gia ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên là phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 161.219.162 đồng trong đó nợ gốc là 50.128.439 đồng; lãi quá hạn 111.090.723 đồng.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà Lê Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm e khoản 1 Điều 192; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 293; Điều 298; Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S (S1): Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng S1 số tiền nợ gốc nợ gốc là 50.128.439 đồng; lãi quá hạn 111.090.723 đồng. Tổng cộng là 161.219.162 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 8.060.958 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí, trả lại Ngân hàng 3.559.647 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số AA/2023/0038067 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải; - Chi cục Thi hành án huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; - Phòng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Hải Yến |
Bản án số 27/2024/DSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S - Lê Thị H: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
