|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-PT Ngày 23 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Hải Hà |
| Các Thẩm phán: | Bà Đinh Cẩm Đào |
| Ông Đỗ Cao Khánh | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Bùi Thanh Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. |
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 25/2024/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 270/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị B; Sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà B: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn N; Sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Biên C; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
Ông Phạm Văn N1; Sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Phạm Văn M; Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
-
Bà Nguyễn Hoàng Thế N2; Sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
Bà Phan Thị T1; Sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Số A, đường L, Phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bà Đặng Thị H; Sinh năm 1965 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Đoàn Thị L; sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
Bà Phạm Thị H1; Sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Huỳnh Thị Ú; Sinh năm 1950 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Đào Mỹ L1; Sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Trần Thanh T2; Sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Ông Huỳnh Mẫn Đ; Sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm I, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Nguyễn Mỹ H2; Sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Vũ Thị H3; Sinh năm 1965 (vắng mặt).
Đốc, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Phạm Thị G (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Nguyễn Thùy T3 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Trần Thị N3; Sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Bà Phạm Thị B1; Sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Ông Phạm Hoàng N4; Sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Ông Phạm Hoàng N5; Sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Ông Hồ Duy A, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Ông Trần Văn V, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
-
Chị Phạm Ngọc K, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn S, huyện T, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Sau khi bà Đặng Thị B và ông Phạm Văn N ly hôn, do không thỏa thuận được tài sản chung, nên bà B yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.
Trong quá trình chung sống vợ chồng bà B và ông N có tài sản chung như sau:
Phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 355,8m² đất tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất thuộc một phần thửa số 320 tờ bản đồ số 14 do ông N đứng tên, giá trị đất 700.000.000 đồng, bà B yêu cầu chia đôi bà B đồng ý nhận đất và giao lại giá trị đất cho ông N bằng 350.000.000 đồng.
Phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 159,8m² đất tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) vợ chồng chuyển nhượng của bà Phạm Thị D, ông Mai Văn V1 trong thời kỳ hôn nhân, trên đất có nhà cơ bản xây dựng năm 2014 giá trị nhà và giá trị thành quả lao động trên đất tổng giá trị 3.600.000.000 đồng, bà B yêu cầu chia đôi bà B đồng ý nhận đất và nhà giao lại giá trị thành quả lao động trên đất và giá trị nhà cho ông N bằng 1.800.000.000 đồng.
Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-07397 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe (đứng tên hộ) giấy tờ xe do N5 giữ, xe giá trị còn lại 800.000.000 đồng.
Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-8893 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe (đứng tên hộ) giấy tờ xe do N5 giữ, xe giá trị còn lại 800.000.000 đồng.
Chiếc xe Vios, biển số 69A-03478 (bốn chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe (đứng tên hộ) giấy tờ xe do N5 giữ, xe mua năm 2016 xe giá trị còn lại 150.000.000 đồng.
Đối với ba chiếc xe trên bà B yêu cầu nhận 3/5 giá trị bằng 1.050.000.000 đồng, không yêu cầu chia giá trị 03 chiếc xe ông Phạm Văn N và Phạm Hoàng N5 bán được 1.560.000.000 đồng.
Vợ chồng có khoảng nợ sau:
- Nợ vợ chồng bà Phạm Thị B1 (ông Hồ Duy A) tiền mượn 100.000.000 đồng.
- Nợ vợ chồng bà Trần Thị N3 (ông Trần Văn V) tiền mượn 538.370.000 đồng và vàng 26,5 chỉ vàng 24k.
- Nợ Nguyễn Thùy T3 tiền mượn 15.000.000 đồng
- Nợ Phạm Thị G tiền mượn 50.000.000 đồng
- Nợ Vũ Thị H3 tiền mượn 73.000.000 đồng
- Nợ Huỳnh Thị Ú tiền mượn 50.000.000 đồng
- Nợ Huỳnh Mẫn Đ tiền mượn 180.000.000 đồng
- Nợ Nguyễn Mỹ H2 tiền vay 452.000.000 đồng
- Nợ Trần Thanh T2 tiền mượn 200.000.000 đồng
- Nợ Đào Mỹ L1 tiền mượn 112.500.000 đồng
- Nợ Phạm Thị H1 vàng mượn 20 chỉ vàng 24k
- Nợ Đoàn Thị L tiền mượn 60.000.000 đồng
- Nợ Đặng Thị H vàng mượn 20 chỉ vàng 24k
- Nợ Phan Thị T1 tiền mượn 20.000.000 đồng và vàng mượn 45 chỉ vàng 24k.
- Nợ Nguyễn Hoàng Thế N2 tiền mượn 93.000.000 đồng
- Nợ Phạm Văn M tiền mượn 280.000.000 đồng
- Nợ Phạm Văn N1 tiền mượn 100.000.000 đồng
- Nợ Ngân hàng TMCP S (Phòng G2)
Bà B yêu cầu chia đôi mỗi người có nghĩa vụ trả ½ khoảng nợ trên.
Ông Phạm Văn N trình bày: Ông xác định vợ chồng có các tài sản chung như sau:
Phần đất theo đo đạc thực tế diện tích đất 355,8m² đất tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất thuộc một phần thửa số 320 tờ bản đồ số 14 do ông N đứng tên, giá trị đất 700.000.000 đồng yêu cầu chia đôi ông yêu cầu nhận giá trị 350.000.000 đồng và đồng ý giao đất cho bà B.
Phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 159,8m² đất tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) vợ chồng chuyển nhượng của bà Phạm Thị D, ông Mai Văn V1 trong thời kỳ hôn nhân, trên đất có nhà cơ bản xây dựng năm 2014 giá trị nhà và giá trị thành quả lao động trên đất tổng giá trị 3.600.000.000 đồng, ông đồng ý chia đôi yêu cầu nhận giá trị 1.800.000.000 đồng và đồng ý giao đất và nhà cho bà B.
Đối với các tài sản bà B yêu cầu chia bao gồm:
Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-07397 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe. Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-8893 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên. Chiếc xe Vios, biển số 69A-03478 (bốn chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe. Ông xác định đây là các tài sản riêng của N5 không phải tài sản chung nên không đồng ý chia đôi.
Đối với các khoảng nợ chung bà B khai bao gồm:
- Nợ vợ chồng bà Phạm Thị B1 (ông Hồ Duy A) tiền mượn 100.000.000 đồng
- Nợ vợ chồng bà Trần Thị N3 (ông Trần Văn V) tiền mượn 538.370.000 đồng và vàng 26,5 chỉ vàng 24k
- Nợ Nguyễn Thùy T3 tiền mượn 15.000.000 đồng
- Nợ Phạm Thị G tiền mượn 50.000.000 đồng
- Nợ Vũ Thị H3 tiền mượn 73.000.000 đồng
- Nợ Huỳnh Thị Ú tiền mượn 50.000.000 đồng
- Nợ Huỳnh Mẫn Đ tiền mượn 180.000.000 đồng
- Nợ Nguyễn Mỹ H2 tiền vay 452.000.000 đồng
- Nợ Trần Thanh T2 tiền mượn 200.000.000 đồng
- Nợ Đào Mỹ L1 tiền mượn 112.500.000 đồng
- Nợ Phạm Thị H1 vàng mượn 20 chỉ vàng 24k
- Nợ Đoàn Thị L tiền mượn 60.000.000 đồng
- Nợ Đặng Thị H vàng mượn 20 chỉ vàng 24k
- Nợ Phan Thị T1 tiền mượn 20.000.000 đồng và vàng mượn 45 chỉ vàng 24k
- Nợ Nguyễn Hoàng Thế N2 tiền mượn 93.000.000 đồng
- Nợ Phạm Văn M tiền mượn 280.000.000 đồng
- Nợ Phạm Văn N1 tiền mượn 100.000.000 đồng
- Nợ Ngân hàng TMCP S (Phòng G2).
Ông N xác định vợ chồng chỉ thiếu nợ của ông M, ông N1, vợ chồng ông Hồ Duy A và Ngân hàng TMCP S ông đồng ý trả ½, còn các khoảng nợ còn lại bà B khai ông không thống nhất thì không đồng ý trả.
Anh Phạm Hoàng N5 trình bày:
Các tài sản bà B (mẹ anh) khai yêu cầu chia tài sản chung với ông N (cha anh) bao gồm: Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-07397 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe. Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-8893 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên. Chiếc xe Vios, biển số 69A-03478 (bốn chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe. Anh xác định đây là các tài sản riêng của anh không phải tài sản chung giữa cha mẹ của anh, trong vụ án này anh không có đặt ra yêu cầu gì.
Tại phiên tòa anh Phạm Hoàng N4, chị Phạm Ngọc K cùng trình bày:
Các tài sản bà B yêu cầu chia với cha anh, chị ba chiếc xe anh N5 đứng tên là tài sản chung giữa bà B và ông N, các khoảng nợ bà B khai là nợ chung giữa cha anh, chị và bà Bích đối các khoảng nợ này anh chị có biết, trong vụ án này anh, chị không có đặt ra yêu cầu gì.
Ông Hồ Duy A trình bày:
Ngày 18/7/2018 vợ chồng ông (bà Phạm Thị B1) cho ông N mượn 100.000.000 đồng, vợ chồng ông yêu cầu ông N, bà B trả 100.000.000 đồng.
Ông Trần Văn V trình bày:
Năm 2017 ông N và bà B có mượn của vợ chồng ông (vợ bà Trần Thị N3) số tiền 538.370.000 đồng và 26 chỉ 5 phân vàng 24k. Khi cho mượn không làm biên nhận, ông đưa vàng và tiền là cho anh N4 và bà B nhận dùm ông N, bà B, cho mượn nhiều lần, do ông và bà B có mối quan hệ quen biết nên không làm biên nhận. Khi mượn tiền vàng thì anh N4 và bà B nói là để làm ăn và mua xe. Khi cho mượn tiền, vàng không cho ông N biết, sau khi bà B đi ông mới gặp ông N để nói ông N biết là bà B có mượn số tiền vàng trên. Ông yêu cầu ông N, bà B trả số tiền 538.370.000 đồng và 26 chỉ 5 phân vàng 24k. Khi cho mượn tiền vàng thì ông có ghi sổ theo dõi nhưng bà B, anh N4 không có ký tên.
Bà Huỳnh Thị Ú trình bày:
Khoảng năm 2016, 2017 bà B có mượn của bà 100.000.000 đồng bà B nói là để mua nền nhà ở K, xã K, lần đầu bà đưa 50.000.000 đồng cho bà B, lần thứ hai bà đưa 50.000.000 đồng cho cháu Phạm Ngọc K, bà đưa cho cháu K là do bà B kêu đưa để sau đó K đưa lại cho bà B. Cháu Phạm Hoàng N4 đã trả thay cho bà B 50.000.000 đồng, hiện tại còn thiếu 50.000.000 đồng. Yêu cầu ông N, bà B trả 50.000.000 đồng. Bà cho bà B mượn tiền không có nói với ông N biết, không có làm biên nhận.
Bà Vũ Thị H3 trình bày:
Tổng số tiền bà B mượn bà hai lần trong năm 2018 là 90.000.000 đồng, khi cho mượn không làm biên nhân, ông N đã trả được cho bà 17.000.000 đồng, còn lại 73.000.000 đồng, bà yêu cầu ông N, bà B trả số tiền 73.000.000 đồng.
Ông Huỳnh Mẫn Đ trình bày:
Vào năm 2017 ông có cho bà Đặng Thị B và ông Phạm Văn N mượn số tiền 200.000.000 đồng, tiền ông đưa cho bà B, thời điểm này bà B và ông N thuê nhà của ông để mở shop bán giầy dép, quần áo, việc bà B mượn tiền ông thì ông N có biết, ông có nhiều lần yêu cầu ông N trả tiền nhưng ông N nói chờ bà B về. Khi bà B mượn tiền của ông có nói là do thiếu vốn làm ăn. Việc ông cho bà B mượn tiền hai bên không có làm biên nhận, ông yêu cầu ông N, bà B trả cho ông số tiền thiếu 200.000.000 đồng. Do điều kiện đi lại khó khăn yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt ông, đề nghị xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm.
Bà Nguyễn Mỹ H2 trình bày:
Năm 2015 bà B có mượn của bà 30.000.000 đồng, ngày 8/3/2015 mượn 20.000.000 đồng, ngày 28/12/2015 mượn 120.000.000 đồng, ngày 11/3/2016 mượn 30.000.000 đồng, ngày 6/6/2016 mượn 50.000.000 đồng, ngày 24/8/2016 mượn 50.000.000 đồng, ngày 29/12/2016 mượn 20.000.000 đồng, tổng số nợ mượn 320.000.000 đồng, anh Phạm Hoàng N4 đã trả được 110.000.000 đồng.
Đối với hụi ngày còn thiếu bà 242.000.000 đồng.
Tổng các khoảng nợ ông N, bà B thiếu bà 452.000.000 đồng, trong vụ án này bà không yêu cầu ông N, bà B trả số tiền 452.000.000 đồng. Do điều kiện đi lại khó khăn yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt bà, đề nghị xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm.
Bà Trần Thanh T2 trình bày:
Trong năm 2017 bà B có gặp bà mượn số tiền 200.000.000 đồng, lần thứ nhất bà đưa cho bà B 100.000.000 đồng bà B nói về mua xe, lần thứ thứ hai bà đưa cho bà B 100.000.000 đồng bà B cũng nói là mua xe. Sau khi bà B mượn tiền thì bà không có nói cho ông N biết, nhưng sau khi bà B không còn sống chung với ông N thì bà có gặp ông N và anh N4 là con ông N biết, ông N và anh N4 hứa trả chỉ nói miệng. Khi cho mượn bà B có làm biên nhận nhưng bà để lạc đâu không biết. Bà T2 yêu cầu ông N, bà B phải có trách nhiệm trả bà 200.000.000 đồng.
Bà Đào Mỹ L1 trình bày:
Năm 2017 bà có cho bà B mượn số tiền 123.000.000 đồng không có làm biên nhận, bà đưa tiền cho cháu K con bà B, khi đưa tiền bà không có nói cho ông N biết, tuy nhiên sau vài tháng trước khi bà B đi và không còn sống chung với ông N, bà có gặp ông N và bà B để đồi số tiền này, bà B có hứa trả nhưng không trả, ông N không có hứa trả. Sau khi bà B đi thì ông N có hứa trả số tiền bà Bích M1, khoảng sau từ tháng 8/2022 al ông N có gửi trả số tiền nhiều lần 10.500.000 đồng. Hiện tại còn thiếu 112.500.000 đồng, nay bà yêu cầu ông N, bà B có trách nhiệm trả cho bà số tiền thiếu 112.500.000 đồng.
Bà Phạm Thị H1 trình bày:
Năm 2016 bà B có mượn của bà 20 chỉ vàng 24k, không làm biên nhận, bà đưa vàng cho bà B, bà B nói là mượn về để mở tiệm bán giầy dép, sau khi bà B mượn vàng thì bà không có nói cho ông N biết, nhưng sau khi bà B không còn sống chung với ông N thì bà có đến gặp ông N để yêu cầu trả nợ. Nay bà yêu cầu bà B, ông N trả 20 chỉ vàng 24k.
Bà Đặng Thị H trình bày:
Năm 2015 bà B có mượn của bà 20 chỉ vàng 24k, bà đưa vàng cho bà B, bà B nói là về làm vốn buôn bán, khi bà B mượn vàng không có làm biên nhận, sau khi bà B mượn vàng đến nay bà không nói cho ông N biết, bà và B có mối quan hệ chị em ruột, khi bà B đến mượn vàng thì có cháu Phạm Ngọc K (con bà B đi chung) bà yêu cầu ông N, bà B trả 20 chỉ vàng 24k.
Bà Đoàn Thị L trình bày:
Năm 2017 bà B có mượn bà hốt chưng hụi của bà, hụi sống, số tiền hốt gần 50.000.000 đồng (bà bù thêm đủ 50.000.000 đồng), hai bên thỏa thuận bà đóng hụi sống, còn bà B đóng hụi chết, số tiền hụi chết bà đóng thay cho bà B 10.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà B, ông N trả số tiền 60.000.000 đồng.
Bà Phan Thị T1 trình bày:
Trong năm 2016 bà cho bà Đặng Thị Bích M1 tiền và vàng 02 lần lần đầu bà đưa 20.000.000 đồng, lần thứ hai bà đưa 45 chỉ vàng 24k, bà B là người nhận tiền và vàng trực tiếp từ bà, bà B nói bà mở tiệm bán quần áo, giầy dép. Khi bà B mượn tiền vàng bà không có liên hệ với ông N cho ông N biết bà B mượn tiền vàng của bà. Bà B có nói với bà là ông N biết việc bà B mượn tiền vàng của bà. Bà B là dì ruột của bà, việc bà cho bà B mượn tiền vàng không làm biên nhận. Nay bà yêu cầu bà B, ông N trả cho bà 20.000.000 đồng và 45 chỉ vàng 24k.
Ông Phạm Văn M trình bày:
Năm 2018 ông N, bà B thỏa thuận nhờ ông vay Ngân hàng dùm, số tiền vay 200.000.000 đồng, lãi Ngân hàng ông N, bà B đóng. Hiện tại ông đã đáo hạn Ngân hàng, tiền vốn và lãi 280.000.000 đồng, trong vụ án này ông không yêu cầu ông N, bà B trả số tiền 280.000.000 đồng
Ông Phạm Văn N1 trình bày:
Năm 2018 ông N, bà B có mượn của ông 100.000.000 đồng, nay ông yêu cầu ông N, bà B trả cho ông 100.000.000 đồng.
Đại diện Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 14/4/2021 ông Phạm Văn N và bà Đặng Thị B đã ký hợp đồng vay theo hợp đồng số [...] để vay vốn tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C1 - P1 số tiền vay theo hạn mức tính dụng 150.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất 12%/năm. Để đảm bảo khoảng vay trên bà B ông N ký hợp đồng thế chấp số 202103251691039 ngày 14/4/2021 thế chấp toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 370 tờ bản đồ số 14 diện tích 349,8m² (theo đo đạc thực tế diện tích 355,8m²) tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 441413 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 02/5/2013 nội dung thay đổi ngày 17/4/2017 đứng tên ông Phạm Văn N. Nay ông N và bà B chia tài sản sau khi ly hôn. Ngân hàng yêu cầu ông N và bà B thanh toán tiền vay cho Ngân hàng, trường hợp không thanh toán đủ tiền vay yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
Số tiền tạm tính đến ngày 30/5/2024 tổng số tiền 34.754.110 đồng (Trong đó nợ gốc 34.375.000 đồng, lãi 379.110 đồng) và khoảng tiền lãi từ ngày 31/5/2024 đối với nợ gốc theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 33, 37, 38, 45, 46 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 317, 318, 319, 323, 325, 463 và 466 Bộ luật dân sự; Điều 12 Luật Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Bích đối V2 ông Trần Văn N6 về việc yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.
Bà Đặng Thị B được quyền sử dụng, quản lý phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 355,8m² thuộc thửa số 370, tờ bản đồ số 14 đất tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Nguyễn Văn H4, bà Châu Thị N7 ngày 02/5/2013 và được thay đổi sang tên ông Phạm Văn N ngày 17/4/2017).
Bà Đặng Thị B được quyền sử dụng, quản lý phần đất có diện tích 159,8m² thuộc thửa số 156 tờ bản đồ số 11 và căn nhà kết cấu bê tông trên đất có diện tích 152,1m² đất tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (đất và nhà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở).
(Kèm theo hai bản vẽ hiện trạng ngày 22/12/2023 của Công ty TNHH T8)
Buộc bà Đặng Thị Bích G1 lại cho ông Phạm Văn N số tiền chênh lệch sau khi phân chia tài sản chung là bằng 2.132.622.945 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đặng Thị B yêu cầu chia 3/5 giá trị ba chiếc xe Fortuner biển số 69A-07397, chiếc xe Fortuner biển số 69A-8893, chiếc xe Vios biển số 69A-03478 bằng 1.050.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hồ Duy A, bà Vũ Thị H3, bà Huỳnh Thị Ú, bà Đào Mỹ L1, ông Phạm Văn N1, Ngân hàng TMCP S và một phần yêu cầu của ông Huỳnh Mẫn Đ đối với ông Phạm Văn N, bà Đặng Thị B về trách nhiệm trả nợ.
Buộc ông Phạm Văn N, bà Đặng Thị B mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ khoảng nợ cho các chủ nợ cụ thể như sau: Mỗi người trả cho ông Phạm Văn N1 50.000.000 đồng, trả cho ông Hồ Duy A 50.000.000 đồng, trả cho bà Huỳnh Thị Ú 25.000.000 đồng, trả cho ông Huỳnh Mẫn Đ 75.000.000 đồng, trả cho bà Đào Mỹ L1 56.250.000 đồng, trả cho bà Vũ Thị H3 36.500.000 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Mẫn Đ yêu cầu bà Đặng Thị B, ông Phạm Văn N trả số tiền 50.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V, bà Trần Thanh T2, bà Phạm Thị H1, bà Đoàn Thị L, bà Đặng Thị H, bà Phan Thị T1 đối với bà Đặng Thị B về trách nhiệm trả nợ.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V, bà Trần Thanh T2, bà Phạm Thị H1, bà Đoàn Thị L, bà Đặng Thị H, bà Phan Thị T1 đối với ông Phạm Văn N có trách nhiệm cùng bà Đặng Thị Bích T4 nợ.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích T5 cho Ngân hàng TMCP S tạm tính đến ngày 30/5/2024 là 34.754.110 đồng (Nợ gốc 34.375.000 đồng, nợ lãi 379.110 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/5/2024 đến khi tất toán nợ theo hợp đồng tính dụng các bên đã ký. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 202103251691039 ngày 14/4/2021 thế chấp toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 370 tờ bản đồ số 14 diện tích 349,8m² (theo đo đạc thực tế diện tích 355,8m²) tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 441413 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 02/5/2013 nội dung thay đổi ngày 17/4/2017 đứng tên ông Phạm Văn N để Ngân hàng thu hồi nợ.
Buộc bà Đặng Thị Bích T4 cho ông Trần Văn V 538.370.000 đồng và 26,5 chỉ vàng 24k, trả cho bà Trần Thanh T2 200.000.000 đồng, trả cho bà Phạm Thị H1 20 chỉ vàng 24k, trả cho bà Đặng Thị H 20 chỉ vàng 24k, trả cho bà Phan Thị T1 20.000.000 đồng và 45 chỉ vàng 24k, trả cho bà Đoàn Thị L 60.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/6/2024 bà Đặng Thị B kháng cáo với nội dung đề nghị xem xét sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Phạm Hoàng N5 phải chia tài sản chung của hộ gia đình đối với 03 chiếc xe và ông Phạm Hoàng N8 phải có nghĩa vụ cùng thanh toán nợ với bà số tiền 1.418.370.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị B, lý do không đưa ra được chứng cứ mới để chứng minh cho việc kháng cáo.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị B vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày kháng cáo với lý do việc bà B đi vay mượn có con là chị Phạm Ngọc K đi cùng, 03 chiếc xe là nguồn tiền bán xe củ để mua các xe này. Anh N5 kinh doanh là nguồn tiền của ông N8 và bà B nên tiền mua xe cũng là nguồn tiền chung của gia đình.
[2] Xét kháng cáo của bà Đặng Thị Bích T6 rằng:
[2.1] Về nguồn tiền bà B đi vay, có con bà là chị K cùng đi và chị K cũng trình bày tại cấp sơ thẩm là chị có chở bà B đi mượn 20 chỉ vàng của bà Đặng Thị H và chị mượn tiền của bà Huỳnh Thị Ú là 50.000.000 đồng là do mẹ chị nhờ chị mượn dùm. Cả phía bà B và ông N8 khi tranh chấp tài sản đều mâu thuẫn với nhau và chị K cũng như anh N5 đều có trình bày khác nhau, một bên bảo vệ bà B một bên bảo vệ ông N8. Tuy nhiên việc mượn nợ của bà B có chị K biết và nợ của bà Ú thì chính chị K nhận tiền và việc vay mượn này không có căn cứ cho rằng ông N8 biết việc bà B vay bao nhiêu và vay của những ai. Các chủ nợ như ông Trần Văn V, bà Phan Thị T1, bà Đặng Thị H, bà Trần Thanh T2 đều thừa nhận bà B là người đi vay, khi vay không có biên nhận nợ, do tin tưởng thân thiết với bà B. Như vậy việc vay nợ không có tài liệu chứng cứ chứng minh và cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh ông N8 biết được việc bà B đi vay. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà B về việc buộc ông N8 cùng có trách nhiệm trả các khoản nợ mà bản án sơ thẩm buộc bà phải thanh toán cho các chủ nợ như ông Trần Văn V, bà Trần Thanh T2, bà Phạm Thị H1, bà Đoàn Thị L, bà Đặng Thị H, bà Phan Thị Tuyết .
[2.2] Về chiếc xe Fortuner, biển số 69A-07397 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe, xe giá trị còn lại 800.000.000 đồng; Chiếc xe Fortuner, biển số 69A-8893 (bảy chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe, xe giá trị còn lại 800.000.000 đồng; Chiếc xe Vios, biển số 69A-03478 (bốn chỗ) do Phạm Hoàng N5 đứng tên xe giá trị còn lại 150.000.000 đồng bà B yêu cầu chia tài sản chung của gia đình. Xét, tại phiên toà bà B cho rằng 03 chiếc xe là tài sản chung của gia đình, do anh N5 kinh doanh điện thoại của gia đình và mua, việc mua xe có vay ngân hàng và bà là người đưa tiền cho con là anh N4 thanh toán ngân hàng. Anh N5 thì xác định việc kinh doanh điện thoại là cá nhân anh tự kinh doanh mua xe, và do anh giao xe cho N4 quản lý cho thuê và chạy dịch vụ nên N4 đóng tiền ngân hàng. Bà B không chứng minh được tiền mua xe là của chung gia đình, nên không có căn cứ chấp nhận 03 chiếc xe nêu trên đứng tên anh N5 là tài sản chung của hộ gia đình.
[2.3] Đối với nội dung kháng cáo bà B cho rằng chị Phạm Ngọc K có cùng kinh doanh tích góp mua 03 chiếc xe nhưng cấp sơ thẩm không đưa chị K tham gia tố tụng là vi phạm. Xét, quá trình thụ lý Toà án cấp sơ thẩm đã đưa chị K tham gia tố tụng và lập biên bản làm việc với chị K, chị K không trình bày ý kiến cũng như tại phiên toà sơ thẩm chị K cũng không có ý kiến trình bày cũng như tranh luận về vấn đề các chiếc xe có phần của chị K xin được chia (BL 388, 389, 463, 464). Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà B.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị B, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.
Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Bích .1 Giữ nguyên bản án sơ thẩm hôn nhân và gia đình số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 33, 37, 38, 45, 46 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 317, 318, 319, 323, 325, 463 và 466 Bộ luật dân sự; Điều 12 Luật Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đặng Thị B yêu cầu chia 3/5 giá trị ba chiếc xe Fortuner biển số 69A-07397, chiếc xe Fortuner biển số 69A-8893, chiếc xe Vios biển số 69A-03478 bằng 1.050.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn V, bà Trần Thanh T2, bà Phạm Thị H1, bà Đoàn Thị L, bà Đặng Thị H, bà Phan Thị T1 đối với ông Phạm Văn N có trách nhiệm cùng bà Đặng Thị Bích T4 nợ.
Buộc bà Đặng Thị Bích T4 cho ông Trần Văn V 538.370.000 đồng và 26,5 chỉ vàng 24k, trả cho bà Trần Thanh T2 200.000.000 đồng, trả cho bà Phạm Thị H1 20 chỉ vàng 24k, trả cho bà Đặng Thị H 20 chỉ vàng 24k, trả cho bà Phan Thị T1 20.000.000 đồng và 45 chỉ vàng 24k, trả cho bà Đoàn Thị L 60.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Án phí sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Phạm Văn N phải chịu 74.652.000 đồng (làm tròn, chưa nộp); bà Đặng Thị Bích P chịu 75.347.000 đồng (làm tròn). Ngày 01/11/2023 bà B tạm ứng án phí số tiền 25.450.000 đồng biên lai thu số 0004939 Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn T7 được đối trừ, bà B còn phải nộp tiếp 49.897.000 đồng.
Án phí phúc thẩm : Bà Đặng Thị Bích P chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng, ngày 05/7/2024 bà đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005270 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
