Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG HINH

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày         : 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thái và ông Niê Y Ling (Ma Bin);

-Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Cảnh B), sinh ngày 17/3/1991 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1953 và bà Phan Thị L, sinh năm 1958; vợ: Nguyễn Trần Mỹ H, sinh năm 1989; con: có 01 con sinh năm 2020; tiền án: Không;

    Tiền sự: 02 tiền sự:

    Ngày 16/03/2022, bị Chủ tịch UBND thị trấn H ra quyết định số 617/QĐ-XPHC về việc xử phạt VPHC đối với Nguyễn Văn C về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác được quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021 với số tiền 6.500.000đ, chưa chấp hành nộp phạt.

    Ngày 09/9/2022, bị Chủ tịch UBND thị trấn H ra quyết định số 2628/QĐ-XPHC về việc xử phạt VPHC đối với Nguyễn Văn C về hành sử dụng hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác được quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/2021 với số tiền 4.000.000đ, chưa chấp hành nộp phạt.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Có mặt.

  2. Lê Mạnh T, sinh ngày 06/4/1975 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B1, sinh năm 1927 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1944; vợ: Phạm Thị L1 (Phạm Thị Kim L1), sinh năm 1976; con: Không có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Có mặt.
  3. Trần Xuân T2, sinh ngày 09/8/1989 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T3, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Hương L2, sinh năm 1990; con: 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 19/12/2005, bị Chủ tịch UBND huyện S ra Quyết định số 1453 về việc áp dụng biện pháp đưa người vào trường giáo dưỡng tại trường G-Bộ C3, trong thời hạn 02 năm đến năm 2008 thì chấp hành xong về lại địa phương.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo T2: Ông Nguyễn Viết Đ, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Thị D, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Bà Phạm Thị Kim L1 (Phạm Thị L1), sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1953; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Hương L2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  5. Ông Phan Minh T4, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt không lý do.
  6. Ông Phan Thanh H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt có đơn đề nghị xử vắng mặt.
  7. Ông Đặng Viết C1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  8. Bà Thái Thị Mỹ L3, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/03/2024 Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, trú tại khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên chuyển qua tài khoản ngân hàng cho Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1996, trú tại khu phố B, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên, số tiền 2.700.000 đồng để H3 mua ma tuý và gửi cho Phan Minh T4, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên là tài xế của hãng xe Sao chở từ thành phố Hồ Chí Minh về B huyện S cho Nguyễn Văn C. Đến sáng ngày 12/03/2024 Nguyễn Văn C gọi điện thoại nhờ Lê Mạnh T, sinh năm 1975, trú tại khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 72F1- 159.49 của Hồ Thị D (em dâu T) đến Bến xe huyện S gặp T4 nhận thùng hàng có chứa ma tuý do H3 gửi về. T biết trong thùng hàng có chứa ma túy nhưng đồng ý đi, trên đường T chở thùng hàng có chứa ma tuý bên trong về giao cho C thì bị cơ quan CSĐT Công an huyện S kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 5,600g ma tuý, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra còn xác định từ tháng 2/2024 đến tháng 3/2024, trên địa bàn huyện S Nguyễn Văn C còn 02 lần mua ma tuý về bán lại cho người khác và sử dụng, cụ thể:

Lần 1: Trước khi bị bắt khoảng 1 tháng, thông qua quen biết trên mạng xã hội, Nguyễn Văn C trực tiếp xuống thành phố T gặp một thanh niên (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) mua 01 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng về phân lẻ ra sử dụng và bán cho người thanh niên tên T5 ở T, xã E và 02 người khác (không biết tên tuổi) 06 -08 lần. Người mua ma túy liên lạc với C qua điện thoại, C thống nhất địa điểm giao ma túy, chủ yếu ở khu vực rừng già thuộc Quốc lộ B, khu phố A, thị trấn H. Sau đó, C bỏ gói ma túy vào trong gói thuốc lá, chai nhựa đựng nước rồi C trực tiếp đi giao hoặc gọi điện thoại cho Lê Mạnh T đến nhà nhận ma túy đem đến để ở vị trí C đã thống nhất trước (T đã nhận đi giao ma túy cho cảnh 3- 4 lần, mỗi lần 1 gói trị giá 300.000 đồng (1 cái 3), trong đó có 02 lần giao cho người thanh niên tên T5). Còn tiền thì C nhận trực tiếp từ người mua hoặc người mua ma túy sẽ đến nhà ở khu phố I, thị trấn H nhét vào vị trí đã thống nhất với C từ trước, sau đó C ra lấy tiền. Sau mỗi lần giao ma túy C cho T từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng tiền công hoặc ít ma túy để T sử dụng.

Lần 2: Trước khi bị bắt khoảng 10 ngày C chuyển cho Hằng số tiền 2.000.000 đồng để H3 mua ma tuý và gửi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về bến xe huyện S, C trực tiếp nhận. Sau đó, C phân lẻ ra đến chiều ngày 11/3/2024, tại trại rẫy của C thuộc khu phố A, thị trấn H, huyện S C đã giao cho T 6 gói ma tuý đem về nhà của T cất giấu để khi nào có khách cần mua C sẽ liên lạc với T để T đi giao cho người mua. Đến ngày 12/3/2024, bị Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của T thu giữ 0,788g ma tuý, loại Methamphetamine. Ngoài ra, C bán cho Trần Xuân T2, sinh năm 1989, trú tại khu phố A, thị trấn H, huyện S hai lần: Lần 1 cách ngày 12/03/2024 khoảng 10 ngày C bán cho T2 3 gói ma tuý trị giá 900.000 đồng, nhưng vì chỗ quen biết nên chỉ lấy của T2 500.000 đồng; Lần 2 vào chiều ngày 11/03/2024 C bán cho T2 4 gói ma tuý (3 gói bằng nhau, 1 gói ít hơn), trị giá 900.000 đồng nhưng C chỉ bán cho T2 500.000 đồng. T2 mang số ma túy trên về nhà cất giấu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của T2 thu giữ 0,756g ma tuý, loại Methamphetamine.

Ngoài ra, khoảng tháng 8/2023 tại thành phố T, tỉnh Phú Yên Cảnh được một người bạn tên thường gọi là “Bi” (không biết rõ họ tên, địa chỉ) cho một ít bột màu trắng và 01 viên nén màu xám đều là ma túy tổng hợp để C sử dụng nhưng do không quen sử dụng loại ma túy này nên C đem về nhà cất để bán cho ai có nhu cầu sử dụng. Ngày 12/03/2024 cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C thu giữ 0,021g ma túy, loại Ketamine; 0,31g ma túy, loại MDMA; 0,312g, loại Methamphetamine (Bút lục: 57-70, 156- 182, 231-333, 349 -383).

Kết luận giám định số 100/KL-KTHS, ngày 18/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A gồm A1= 4,799g, A2=0,332g, A3=0,469g) trong 03 bì nilon trong suốt vuốt kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 5,600g, loại Methamphetamine. (Bút lục: 188).

Kết luận giám định số 103/KL-KTHS, ngày 19/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A gồm A₁= 0,177g, A2=0,183g, A3=0,110g, A4=0,099g, A5=0,118g, A6=0,101g) trong 06 đoạn ống nhựa hàn kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,788g, loại Methamphetamine. (Bút lục: 189).

Kết luận giám định số 104/KL-KTHS, ngày 19/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) gồm: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A1.1) bám dính trong bì nilon trong suốt hở một đầu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Vì lượng tinh thể màu trắng bám dính ít nên không xác định được khối lượng; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A1.2) bán dính trong bì nilon trong suốt hàn kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,154g, loại Methamphetamin; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A2 gồm A2.1= 0,175g, A2.2=0,159g, A2.3=0,138g, A2.4=0,130g) trong 04 đoạn ống nhựa hàn kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,602g, loại Methamphetamine. (Bút lục: 190 -191).

Kết luận giám định số 106/KL-KTHS, ngày 21/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu A1.1) trong tờ tiền mệnh giá 5.000 VNĐ gấp lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,021g, loại Ketamine; Một phần viên nén màu xám (ký hiệu A1.2) trong tờ tiền mệnh giá 5.000 VNĐ gấp lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,137g, loại MDMA; Chất bột màu xám (ký hiệu A1.3) trong 02 tờ vé số gấp lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,173g, loại MDMA; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) trong đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,312g, loại Methamphetamine; Tinh thể màu trắng bám dính trong bì nilon trong suốt vuốt kín (ký hiệu A3.1) và tinh thể màu trắng bám dính trong 05 đoạn ống nhựa trong suốt hở một đầu (ký hiệu A3.2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Vì lượng tinh thể màu trắng bám dính ít nên không xác định được khối lượng; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A4) bám dính trong bì nilon trong suốt vuốt kín bám dính trong bì nilon trong suốt vuốt kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Phú Yên gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Vì lượng tinh thể màu trắng bám dính ít nên không xác định được khối lượng. (Bút lục: 192 - 193).

- Vật chứng vụ án:

  • + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, mang biển kiểm soát 72F1-159.49.
  • + 01 (Một) thùng xốp có dán kín băng keo màu vàng, nắp thùng xốp có dán 2 tờ giấy trắng, bên trên tờ giấy thứ nhất có viết nội dung “08388325457 A. Tý”. Tờ giấy thứ hai có viết nội dung “Bến xe S".
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, loại bàn phím màu xám, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Nokia, màu xanh, màn hình bị nứt vỡ;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xanh, màn hình bị vỡ nát;
  • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 V03.60 màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) cân tiểu ly điện tử (được niêm phong theo quy định);
  • + 04 tập vở học sinh, trong đó 03 tập giống nhau, có bìa màu vàng, trên bìa có chữ “Điểm 10”, loại 96 trang, bên trong có ghi nội dung; 01 tập không có bìa, ngoài mặt có ghi “vui khoẻ vệ sinh an toàn";
  • + 01 tập vở học sinh trên bìa có chữ “Măng non”, loại 96 trang, nhiều màu;
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa và chất lỏng được chiết xuất từ chai trên đựng trong một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa được liên kết với nhau, cao 15cm, đường kính lớn nhất 05cm, bên trong chứa chất lỏng, miệng chai có nắp đậy màu vàng, trên nắp có gắn một ống thủy tinh uốn cong và một ống nhựa, loại ống hút màu tím. Phần chất lỏng trong chai được chiết suất qua một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai nhựa cao 19cm, đường kính 06cm, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ đục gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 20cm, đường kính 0,5cm, bên trong chai nhựa có chất lỏng không màu; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm, trên nắp có đục lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu đen dán băng keo trắng, chiều dài ống hút 20cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm trên nắp có đục 02 lỗ gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn, một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 05cm. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 02 (Hai) ống thủy tinh kích thước dài 20cm, đường kính 0,5cm, 01 ống thẳng và một ống cong đầu được thổi tròn. (Được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) hộp nhựa có nắp kích thước (17x12x5) cm bên trong có 03 cây tăm bông, 07 ống nhựa kích thước dài 05cm đến 11cm, đường kính của ống 0,5cm và 01 (Một) ống thủy tinh có một đầu được thổi tròn dài 20cm, đường kính 0,5cm (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1: 4,613(g), A2: 0,308(g), A3: 0,416(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 100/KL-KTHS, ngày 18/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: 0,660(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 103/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,129(g), A2: 0,557(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 104/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,005(g) loại Ketamine, A1.2: 0,120(g), A1.3: 0,115(g) loại MDMA; A2: 0,258(g) theo kết luận giám định số: 106/KL-KTHS, ngày 21/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01(Một) chiếc ví nam màu nâu, bên trong có 01 thẻ ATM ngân hàng S màu xanh số 9704039190706075; 01 thẻ ATM ngân hàng ACB màu trắng xanh số 9704162460221193 mang thên Nguyễn Trung T6;
  • + 01 (Một) hộp nhựa kích thước 15 x 5 x 3,5, bên trong hộp có 05 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 túi ni lông kích thước 7,5 x 4, 01 thanh kim loại dài 12cm, đường kính 0,2cm;
  • + 01 (Một) hộp nhựa hiệu Saring, bên trong có 02 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000đ; 02 tờ vé xổ số kiến thiết Bình Định ngày 16/11/2023.

Cáo trạng số 24/CT-VKS-SH ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Mạnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Xuân T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Hồ Thị D trình bày (BL 372, 373): Chiếc xe mô tô BKS 72F1-159.49 là xe của chị ruột Hồ Thị T7 tặng cho bà để làm phương tiện đi lại, do bị cáo Lê Mạnh T không có xe nên bà cho bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe này đi mua bán ma tuý bà không biết nên xin Toà trả lại chiếc xe này cho bà.

Bà Phạm Thị Kim L1 (Phạm Thị L1) trình bày (BL 375, 376): bà là vợ của bị cáo Lê Mạnh T. Việc bị cáo T sử dụng và mua bán ma tuý thì bà không biết đến khi công an đến khám xét nhà thì bà mới biết.

Ông Nguyễn Văn Q trình bày (BL 377): Ông là cha ruột của bị cáo Nguyễn Văn C. Việc bị cáo C sử dụng xe mô tô, nhà tại khu phố I, thị trấn H của anh trai C là Nguyễn Văn P (đã chết năm 2020) và rẫy của ông tại khu phố A, thị trấn hai Riêng để mua bán ma tuý thì ông và gia đình không biết.

Bà Nguyễn Thị Hương L2 trình bày (BL 378, 379): bà là vợ của bị cáo Trần Xuân T2. Bà không biết việc bị cáo T2 tàng trữ ma tuý trong nhà cũng không biết chiếc cân tiểu ly là của ai và sử dụng để làm gì.

Ông Phan Minh T4 trình bày (BL 383A): Chiều ngày 11/3/2024 ông lái xe từ thành phố Hồ Chí Minh về huyện S, tỉnh Phú Yên có nhận chở một thùng xốp được dán kính từ thành phố Hồ Chí Minh về bến S, hỏi thì người gửi nói là bên trong có trái cây nên không kiểm tra, ông không biết người gửi ở đâu, tên gì.

Anh Phan Thanh H2 trình bày (BL 383): Khoảng tháng 2 đến giữa tháng 3 năm 2024, bị cáo C có nhờ chuyển tiền vào số tài khoản của C (không nhớ số tài khoản) rồi C đưa tiền mặt cho anh, C nhờ chuyển khoản khoảng 05 lần nhưng không nhớ rõ số tiền.

Anh Đặng Viết C1 trình bày (BL 382): Khoảng đầu tháng 2 đến gần giữa tháng 3 năm 2024, C có nhờ chuyển tiền vào số tài khoản của C (không nhớ số tài khoản) rồi C đưa tiền mặt cho anh. Cảnh nhờ chuyển khoản khoảng hơn 10 lần nhưng không nhớ rõ số tiền cụ thể.

Bà Thái Thị Mỹ L3 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Trung T6 và mẹ ruột của Nguyễn Thị Thu H3. Ông T6 đã chết năm 2022, còn H3 đi đang làm tại thành phố Hồ Chí Minh không rõ địa chỉ. Đến thời điểm này H3 đã về nhà và đang làm việc với công an. Bà không biết giữa H3 và bị cáo C có quan hệ gì, cũng chưa từng gặp C. Bà xin nhận lại thẻ ATM của chồng là Nguyễn Trung T6.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh thực hành quyền công tố quyết định giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/3/2024.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Mạnh T từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/3/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Trần Xuân T2 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghiện ma tuý, làm nông thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Sung ngân sách nhà nước gồm:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Nokia màu xanh, màn hình bị nứt;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xanh, màn hình bị vỡ nát;
  • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 V03.60 màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 02 (hai) tờ tiền giấy mệnh giá 5.000₫

- Trả cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp các vật chứng như sau:

  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01(Một) chiếc ví nam màu nâu, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh loại bàn phím đã qua sử dụng, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel loại bàn phím màu xám đã qua sử dụng, vỡ và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + Trả cho bị cáo Trần Xuân T2 01 (Một) cân tiểu ly điện tử (được niêm phong theo quy định);
  • + Trả cho bà Hồ Thị D 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, mang biển kiểm soát 72F1-159.4901;
  • + Trả cho bà Thái Thị Mỹ L3 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A1 màu trắng xanh số 9704162460221193 mang tên NGUYEN TRUNG THIEN;

- Tiêu huỷ các vật chứng do không còn giá trị sử dụng và cấm lưu hành gồm:

  • + 01 (Một) thùng xốp có dán kín băng keo màu vàng, nắp thùng xốp có dán 2 tờ giấy trắng, bên trên tờ giấy thứ nhất có viết nội dung “08388325457 A. Tý”. Tờ giấy thứ hai có viết nội dung “Bến xe S".
  • + 04 tập vở học sinh, trong đó 03 tập giống nhau, có bìa màu vàng, trên bìa có chữ “Điểm 10”, loại 96 trang, bên trong có ghi nội dung; 01 tập không có bìa, ngoài mặt có ghi “vui khoẻ vệ sinh an toàn";
  • + 01 tập vở học sinh trên bìa có chữ “Măng non”, loại 96 trang, nhiều màu;
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa và chất lỏng được chiết xuất từ chai trên đựng trong một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa được liên kết với nhau, cao 15cm, đường kính lớn nhất 05cm, bên trong chứa chất lỏng, miệng chai có nắp đậy màu vàng, trên nắp có gắn một ống thủy tinh uốn cong và một ống nhựa, loại ống hút màu tím. Phần chất lỏng trong chai được chiết suất qua một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai nhựa cao 19cm, đường kính 06cm, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ đục gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 20cm, đường kính 0,5cm, bên trong chai nhựa có chất lỏng không màu; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm, trên nắp có đục lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu đen dán băng keo trắng, chiều dài ống hút 20cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm trên nắp có đục 02 lỗ gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn, một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 05cm. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 02 (Hai) ống thủy tinh kích thước dài 20cm, đường kính 0,5cm, 01 ống thẳng và một ống cong đầu được thổi tròn. (Được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) hộp nhựa có nắp kích thước (17x12x5) cm bên trong có 03 cây tăm bông, 07 ống nhựa kích thước dài 05cm đến 11cm, đường kính của ống 0,5cm và 01 (Một) ống thủy tinh có một đầu được thổi tròn dài 20cm, đường kính 0,5cm (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1: 4,613(g), A2: 0,308(g), A3: 0,416(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 100/KL-KTHS, ngày 18/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: 0,660(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 103/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,129(g), A2: 0,557(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 104/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,005(g) loại Ketamine, A1.2: 0,120(g), A1.3: 0,115(g) loại MDMA; A2: 0,258(g) theo kết luận giám định số: 106/KL-KTHS, ngày 21/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 thẻ ATM ngân hàng S màu xanh số 9704039190706075;
  • + 01 (Một) hộp nhựa kích thước 15 x 5 x 3,5, bên trong hộp có 05 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 túi ni lông kích thước 7,5 x 4, 01 thanh kim loại dài 12cm, đường kính 0,2cm;
  • + 01 (Một) hộp nhựa hiệu Saring; 02 tờ vé xổ số kiến thiết Bình Định ngày 16/11/2023;

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T2: Thống nhất về tội danh, tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát trình bày. Ngoài ra bị cáo có vợ mới sinh con nhỏ, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 tuyên mức án cho bị cáo T2 thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị và miễn án phí hình sự cho bị cáo T2.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ tháng 2 năm 2024 đến tháng 3 năm 2024, trên địa bàn huyện S, Nguyễn Văn C đã có hành vi mua ma tuý 03 lần và có hành vi bán ma túy cho Trần Xuân T2 02 lần (lần 1 bán 3 gói, lấy số tiền 500.000 đồng, lần 2 bán 4 gói, lấy số tiền 500.000 đồng), nhiều lần bán ma túy cho người tên T5 ở thôn T, xã E và 02 người (không biết tên tuổi, địa chỉ) (khoảng 06- 08 lần); thu giữ tại chỗ ở của Cảnh 0,021g ma túy, loại Ketamine; 0,31g ma túy, loại MDMA; 0,312g, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Lê Mạnh T đã có hành vi mua ma túy cùng với C 01 lần và giúp C đi bán ma túy khoảng 03 đến 04 lần. Trần Xuân T2 có hành vi tàng trữ 0,756g ma tuý, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê Mạnh T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Xuân T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ....

Điểm b, i, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

....b) Phạm tội 02 lần trở lên......;

....i) Heroine, C2, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

....p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này; ....

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T có cha được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo T2 có ông, bà ngoại được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng Ba và ông nội là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và được trợ cấp hàng tháng nên bị cáo T, T2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hướng xử lý: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma tuý, hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích kiếm lời và thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý bị cáo C là người có 02 tiền sự đã có hành vi mua ma tuý 03 lần và nhiều lần bán ma tuý cho người khác nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo còn lại. Bị cáo T là người nghiện ma tuý vì mục đích muốn có tiền và có ma tuý sử dụng nên đã có hành vi mua ma tuý 01 lần cùng với bị cáo C và nhiều lần giúp C đi bán ma tuý nên bị cáo là đồng phạm với C về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và có vai trò thấp hơn nên chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo C. Bị cáo T2 là người có nhân thân xấu, đã có hành vi tàng trữ 0,756g ma tuý, loại Methamphetamine nên phải chịu trách nhiệm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, xét các bị cáo C có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo T, T2 có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm một phần hình phạt cho các bị cáo là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Từ những nhận định trên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là người nghiện ma tuý, làm nông thu nhập không ổn định, bị cáo T2 gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo T2 về việc đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T2 dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[8] Đối với hành vi của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị D là chủ sở hữu xe mô tô, biển kiểm soát 72F1-159.49 không biết T sử dụng xe mô tô của mình đi bán ma tuý, ông Nguyễn Văn Q không biết C sử dụng rẫy của mình để bán ma tuý, bà Phan Thị Kim L4 (vợ T) không biết T giấu ma tuý tại chỗ ở, bà Nguyễn Thị Hương L2 (vợ T2) không biết T2 giấu ma tuý tại chỗ ở, ông Phan Minh T4 nhận chở thùng xốp không biết bên trong có ma tuý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét trách nhiệm hình sự đối D, Q, L4, L2, T4 là có căn cứ.

Đối với người tên “Bi” đã cho C một viên ma tuý, người thanh niên bán ma tuý cho C ở thành phố T và người thanh niên tên T5 ở xã E nhiều lần mua ma tuý từ C, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị Thu H3 không có mặt tại địa phương, đã xác minh nhưng không xác định được đang ở đâu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra quyết định truy tìm và tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau là có căn cứ.

[9] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Sung ngân sách nhà nước các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội gồm:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Nokia màu xanh, màn hình bị nứt;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xanh, màn hình bị vỡ nát;
  • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 V03.60 màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 02 (hai) tờ tiền giấy mệnh giá 5.000₫

- Trả cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp các vật chứng như sau:

  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01(Một) chiếc ví nam màu nâu, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh loại bàn phím đã qua sử dụng, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel loại bàn phím màu xám đã qua sử dụng, vỡ và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + Trả cho bị cáo Trần Xuân T2 01 (Một) cân tiểu ly điện tử (được niêm phong theo quy định);
  • + Trả cho bà Hồ Thị D 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, mang biển kiểm soát 72F1-159.4901;
  • + Trả cho bà Thái Thị Mỹ L3 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A1 màu trắng xanh số 9704162460221193 mang tên NGUYEN TRUNG THIEN;

- Tiêu huỷ các vật chứng do không còn giá trị sử dụng và cấm lưu hành gồm:

  • + 01 (Một) thùng xốp có dán kín băng keo màu vàng, nắp thùng xốp có dán 2 tờ giấy trắng, bên trên tờ giấy thứ nhất có viết nội dung “08388325457 A. Tý”. Tờ giấy thứ hai có viết nội dung “Bến xe S".
  • + 04 tập vở học sinh, trong đó 03 tập giống nhau, có bìa màu vàng, trên bìa có chữ “Điểm 10”, loại 96 trang, bên trong có ghi nội dung; 01 tập không có bìa, ngoài mặt có ghi “vui khoẻ vệ sinh an toàn";
  • + 01 tập vở học sinh trên bìa có chữ “Măng non”, loại 96 trang, nhiều màu;
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa và chất lỏng được chiết xuất từ chai trên đựng trong một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa được liên kết với nhau, cao 15cm, đường kính lớn nhất 05cm, bên trong chứa chất lỏng, miệng chai có nắp đậy màu vàng, trên nắp có gắn một ống thủy tinh uốn cong và một ống nhựa, loại ống hút màu tím. Phần chất lỏng trong chai được chiết suất qua một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai nhựa cao 19cm, đường kính 06cm, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ đục gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 20cm, đường kính 0,5cm, bên trong chai nhựa có chất lỏng không màu; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm, trên nắp có đục lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu đen dán băng keo trắng, chiều dài ống hút 20cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm trên nắp có đục 02 lỗ gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn, một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 05cm. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 02 (Hai) ống thủy tinh kích thước dài 20cm, đường kính 0,5cm, 01 ống thẳng và một ống cong đầu được thổi tròn. (Được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) hộp nhựa có nắp kích thước (17x12x5) cm bên trong có 03 cây tăm bông, 07 ống nhựa kích thước dài 05cm đến 11cm, đường kính của ống 0,5cm và 01 (Một) ống thủy tinh có một đầu được thổi tròn dài 20cm, đường kính 0,5cm (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1: 4,613(g), A2: 0,308(g), A3: 0,416(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 100/KL-KTHS, ngày 18/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: 0,660(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 103/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,129(g), A2: 0,557(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 104/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,005(g) loại Ketamine, A1.2: 0,120(g), A1.3: 0,115(g) loại MDMA; A2: 0,258(g) theo kết luận giám định số: 106/KL-KTHS, ngày 21/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 thẻ ATM ngân hàng S màu xanh số 9704039190706075;
  • + 01 (Một) hộp nhựa kích thước 15 x 5 x 3,5, bên trong hộp có 05 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 túi ni lông kích thước 7,5 x 4, 01 thanh kim loại dài 12cm, đường kính 0,2cm;
  • + 01 (Một) hộp nhựa hiệu Saring; 02 tờ vé xổ số kiến thiết Bình Định ngày 16/11/2023;

(Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận đồ vật tài liệu vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh).

[10] Về án phí: Các bị cáo C, T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là mỗi bị cáo 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T2 do gia đình thuộc hộ cận nghèo.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C (C), Lê Mạnh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Trần Xuân T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C (C) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 12/3/2024.

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Mạnh T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 12/3/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Xuân T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 12/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về kiến nghị: Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ hành vi của Nguyễn Thị Thu H3, người thanh niên tên “Thìn” ở xã E, người thanh niên bán ma tuý cho C ở thành phố T, người tên “Bi” đã cho C ma tuý để xử lý theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Sung ngân sách nhà nước các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội gồm:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Nokia màu xanh, màn hình bị nứt;
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xanh, màn hình bị vỡ nát;
  • + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 V03.60 màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + 02 (hai) tờ tiền giấy mệnh giá 5.000₫

- Trả cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp các vật chứng như sau:

  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Văn C 01(Một) chiếc ví nam màu nâu, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím, đã qua sử dụng, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel loại bàn phím màu xám đã qua sử dụng, vỡ và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng;
  • + Trả cho bị cáo Trần Xuân T2 01 (Một) cân tiểu ly điện tử (được niêm phong theo quy định);
  • + Trả cho bà Hồ Thị D 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, mang biển kiểm soát 72F1-159.4901;
  • + Trả cho bà Thái Thị Mỹ L3 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A1 màu trắng xanh số 9704162460221193 mang tên NGUYEN TRUNG THIEN;

- Tiêu huỷ các vật chứng do không còn giá trị sử dụng và cấm lưu hành gồm:

  • + 01 (Một) thùng xốp có dán kín băng keo màu vàng, nắp thùng xốp có dán 2 tờ giấy trắng, bên trên tờ giấy thứ nhất có viết nội dung “08388325457 A. Tý”. Tờ giấy thứ hai có viết nội dung “Bến xe S".
  • + 04 tập vở học sinh, trong đó 03 tập giống nhau, có bìa màu vàng, trên bìa có chữ “Điểm 10”, loại 96 trang, bên trong có ghi nội dung; 01 tập không có bìa, ngoài mặt có ghi “vui khoẻ vệ sinh an toàn";
  • + 01 tập vở học sinh trên bìa có chữ “Măng non”, loại 96 trang, nhiều màu;
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa và chất lỏng được chiết xuất từ chai trên đựng trong một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai có phần đáy bằng thủy tinh, cổ chai bằng nhựa được liên kết với nhau, cao 15cm, đường kính lớn nhất 05cm, bên trong chứa chất lỏng, miệng chai có nắp đậy màu vàng, trên nắp có gắn một ống thủy tinh uốn cong và một ống nhựa, loại ống hút màu tím. Phần chất lỏng trong chai được chiết suất qua một chai nhựa khác. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) chai nhựa cao 19cm, đường kính 06cm, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 02 lỗ đục gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 20cm, đường kính 0,5cm, bên trong chai nhựa có chất lỏng không màu; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm, trên nắp có đục lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu đen dán băng keo trắng, chiều dài ống hút 20cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu vàng đường kính 03cm trên nắp có đục 02 lỗ gắn 01 ống nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,5cm và 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu tròn, một đầu thẳng, dài 20cm, đường kính 05cm. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 02 (Hai) ống thủy tinh kích thước dài 20cm, đường kính 0,5cm, 01 ống thẳng và một ống cong đầu được thổi tròn. (Được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) hộp nhựa có nắp kích thước (17x12x5) cm bên trong có 03 cây tăm bông, 07 ống nhựa kích thước dài 05cm đến 11cm, đường kính của ống 0,5cm và 01 (Một) ống thủy tinh có một đầu được thổi tròn dài 20cm, đường kính 0,5cm (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1: 4,613(g), A2: 0,308(g), A3: 0,416(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 100/KL-KTHS, ngày 18/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: 0,660(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 103/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,129(g), A2: 0,557(g), loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 104/KL-KTHS, ngày 19/03/2024. (đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 (Một) bì thư của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong có số ma túy được hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện S: A1.1: 0,005(g) loại Ketamine, A1.2: 0,120(g), A1.3: 0,115(g) loại MDMA; A2: 0,258(g) theo kết luận giám định số: 106/KL-KTHS, ngày 21/03/2024. (Đã được niêm phong theo quy định);
  • + 01 thẻ ATM ngân hàng S màu xanh số 9704039190706075;
  • + 01 (Một) hộp nhựa kích thước 15 x 5 x 3,5, bên trong hộp có 05 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, 01 túi ni lông kích thước 7,5 x 4, 01 thanh kim loại dài 12cm, đường kính 0,2cm;
  • + 01 (Một) hộp nhựa hiệu Saring; 02 tờ vé xổ số kiến thiết Bình Định ngày 16/11/2023;

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C (C), Lê Mạnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Xuân T2.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND H.Sông Hinh;
  • - Công an H.Sông Hinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Thi hành án Dân sự huyện Sông Hinh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bàn Thị Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger