|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/ HNGĐ - ST Ngày 17/9/2024. V/v: “Tr/c Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Ái Nguyên.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Khởi
Ông Hán Thanh Nhân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa:
Ông Trần Minh Hòa- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2024/TLST- HNGĐ ngày 07/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXX - ST ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Lê Kim T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Đ và chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án anh Nguyễn Anh Đ trình bày: Anh và chị Lê Kim T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 10/08/2009 tại UBND xã H (nay là xã D), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống cùng bố, mẹ đẻ anh tại Khu A xã D, huyện T cho đến nay. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 xảy ra mâu thuẫn về tình cảm, bất đồng quan điểm. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
Về phía chị Lê Thị Kim T trình bày: Chị và anh Nguyễn Anh Đ đăng ký kết hôn ngày 10/8/2009 tại UBND xã H (Nay là xã D), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng anh, chị vẫn sống hòa thuận hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Nay anh Đ đề nghị ly hôn, chị không đồng ý, chị đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng được đoàn tụ cùng chăm sóc con chung.
Về con chung: Vợ chồng xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 07/12/2010 và Nguyễn Hiếu Bảo M, sinh ngày 29/10/2016.
Quan điểm của anh Đ nếu ly hôn đặt anh đề nghị chị T sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 07/12/2010 và Nguyễn Hiếu Bảo M, sinh ngày 29/10/2016. Anh Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mức 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng)/ 01 tháng.
Quan điểm của chị T xin được đoàn tụ. Nếu ly hôn đặt ra chị T xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 07/12/2010 và Nguyễn Hiếu Bảo M, sinh ngày 29/10/2016. Anh Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mức 15.000.000₫ (Mười năm triệu đồng)/ 01 tháng.
Về tài sản chung: Anh Đ, chị T xác định nếu ly hôn đặt ra vợ chồng tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Đ, chị T xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về công sức đóng góp gia đình: Anh Đ, chị T xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Văn Q bố đẻ anh Đ trình bày:
Anh Đ và chị T là vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 10/8/2009 tại UBND xã H (Nay là xã D) huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hai bên có tổ chức cưới xin theo phong tục của địa phương.
Sau khi kết hôn thì anh Đ và chị T về chung sống cùng gia đình tôi tại khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống thì vợ chồng anh Đ và chị T hạnh phúc không xảy ra mâu thuẫn bao giờ. Tôi chưa từng thấy anh Đ và chị T cãi nhau bao giờ. Tôi vẫn thấy anh Đ và chị T chung sống với nhau bình thường cuối tuần nào anh Đ cũng về nhà chung sống với chị T. Chị T là người con dâu tốt biết cách đối xử với gia đình chồng, với chồng, biết cách chăm sóc con cái và không có gì để chê trách cả.
Nay anh Đ đề nghị ly hôn với chị T quan điểm của tôi là không đồng ý để anh Đ và chị T ly hôn. Tôi đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để anh Đ và chị T được đoàn tụ cùng chăm sóc con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết số 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Anh Đ với chị Lê Kim T.
Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
Án phí: Anh Nguyễn Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Đ đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Nguyễn Anh Đ khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lê Kim T là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn anh Nguyễn Anh Đ và bị đơn chị Lê Kim T đều cư trú tại khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Anh Đ và chị Lê Kim T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Anh Đ và chị Lê Kim T.
2. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Anh Đ kết hôn với chị Lê Kim T trên cơ sở tình yêu tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2009 tại UBND xã H (Nay là xã D) huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh Đ và chị T ở chung cùng bố mẹ anh Đ cho đến nay, tình cảm vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì, chị T là người con dâu có trách nhiệm với gia đình, hiếu thảo với bố mẹ chồng, chăm sóc nuôi dạy con ngoan, anh Đ công tác tại Hà nội cuối tuần vẫn về với gia đình chung sống cùng bố, mẹ, vợ, các con. Nội dung này cũng được thể hiện trong lời khai của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị C là bố, mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh Đ và xác nhận của T1 khu hành chính, chị hội phụ nữ khu 12 xã dân quyền là anh Đ và chị T đang sống cùng bố mẹ anh Đ hai vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn hay to tiếng với nhau.
Quá trình giải quyết tại Tòa án anh Đ kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng anh, chị có mâu thuẫn về tình cảm từ năm 2017 đến nay dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Tuy nhiên, ngoài lời khai ra thì anh Đ không đưa ra được chứng cứ nào, chứng minh là tình cảm vợ chồng anh, chị mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài dẫn đến ly hôn.
Về phía chị T vẫn khẳng định tình cảm vợ chồng anh, chị vẫn còn, không mâu thuẫn hay cãi nhau bao giờ chị vẫn thương yêu anh nên tha thiết xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung.
Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Anh Đ đối với chị Lê Kim T không có căn cứ chấp nhận.
2.2. Do bác đơn ly hôn nên các quan hệ khác như con chung, tài sản chung, công nợ, công sức Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí anh Nguyễn Anh Đ phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 5, Điều 19; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Anh Đ với chị Lê Kim T.
2. Về con chung. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Đ đã nộp tạm ứng án phí 300.000₫ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/2023/0003431 ngày 06/5/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Anh Đ, chị Lê Kim T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phùng Thị Ái N |
Bản án số 27/2024/ HNGĐ - ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 27/2024/ HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Đ xin ly hôn chị T
