Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/KDTM-ST

Ngày: 08-8-2024

Về việc: “Yêu cầu thực

hiện nghĩa vụ trả tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Hải

- Ông Huỳnh Thanh Trà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 102/2023/TLST-KDTM ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 102/2024/QĐST-KDTM ngày 28/6/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên toà số 102/2024/TB-TA ngày 12/7/2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 102/2024/QĐST-KDTM ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH V.

Địa chỉ: K H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: F D, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Việt D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đào Ngọc L – sinh năm 1969; Địa chỉ: F D, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2023, có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH D2.

Người đại diện theo pháp luật: ông Từ Tấn C. Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: K149 H L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đào Ngọc L trình bày:

Ngày 20/01/2020, Công ty TNHH V (sau đây gọi tắt là Công ty V) và Công ty TNHH D2 (sau đây gọi là Công ty D2) có ký kết hợp đồng thuê xe ô tô khách số 01/2020/VTA-CMH để thuê xe khách 47 chỗ ngồi có BKS là 43B-035.69. Ngay sau khi ký hợp đồng, Công ty V đã đặt cọc cho Công ty D2 số tiền 360.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm sáu mươi triệu đồng y), có phiếu chi của Công ty V ngày 20/1/2020 số tiền 360.000.000 đồng.

Ngày 25/01/2020, Công ty V tiếp tục thuê thêm xe ô tô khách 47 chỗ ngồi từ Công ty D2, biển kiểm soát số 43B-035.81, theo Hợp đồng số 02/2020/VTA-CMH. Công ty V cũng đặt cọc cho Công ty D2 số tiền 360.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm sáu mươi triệu đồng y), có phiếu chi của Công ty V ngày 25/1/2020 số tiền 360.000.000 đồng).

Cũng trong ngày 25/01/2020, Công ty V tiếp tục thuê thêm xe tô khách 47 chỗ ngồi từ Công ty D2, biển kiểm soát số 43B-030.59, theo Hợp đồng số 03/2020/VTA-CMH. Công ty V cũng đặt cọc cho Công ty D2 số tiền 360.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm sáu mươi triệu đồng y), có phiếu chi của Công ty V ngày 25/1/2020 số tiền 360.000.000 đồng

Sau đó, vì lý do khách quan hai bên tiến hành ký văn bản số 03/20/TLHĐ ngày 01/03/2020 để thanh lý hợp đồng số 02/2020/VTA-CMH, ký văn bản số 03/2020/TLHĐ ngày 01/3/2020 để thanh lý hợp đồng số 03/2020/VTA-CMH và ký văn bản số 01/2020/TLHĐ ngày 15/3/2020 để thanh lý hợp đồng số 01/2020/VTA-CMH. Trong 03 văn bản thanh lý đều thống nhất nội dung: Bên cho thuê xe Công ty D2 sẽ chuyển khoản lại số tiền mà bên thuê xe Công ty V đã tạm ứng trước đây vào tài khoản của Công ty V đúng theo trong 03 hợp đồng đã ký. Tuy nhiên, từ đó đến nay Công ty D2 không thực hiện nghĩa vụ này. Công ty V đã nhiều lần yêu cầu Công ty D2 thanh toán nhưng Công ty D2 luôn viện cớ khó khăn do hậu dịch bệnh Covid để thoái thác. Vì vậy, nay để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình, Công ty V khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết: Buộc Công ty D2 hoàn trả lại cho Công ty V số tiền 1.080.000.000 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi triệu đồng).

* Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Từ Tấn C trình bày: Tháng 11/2016 và 7/2017 Công ty D2 có vay Ngân hàng TMCP P và Ngân hàng V1 mua 3 xe ô tô khác 45 ghế mang biển số: 43B-03059, 43B-03569, 43B-03581 về vận chuyển phục vụ du lịch. Đến năm 2020 phát dịch Covid nên Công ty không đủ khả năng chi trả ngân hàng cho nên bên phía Ngân hàng tiến hành thu xe, Ngân hàng TMCP P tiến hành niêm phong xe tại B cho đến ngày 21/4/2021 ông L thông qua ông H giới thiệu nói ông L trước kia đã làm xe, ông L lùn lách xử lý ngân hàng H1 đem xe đi cất nơi khác và tháo gỡ hết phụ kiện xe xong giao ngân hàng lại cái xác xe cho đến khi ngân hàng đưa ra đấu giá ông L sẽ đưa người vào mua giá thấp hơn còn sau này sẽ đưa phụ kiện xe vào lại và ông L nói ông C làm hợp đồng 3 xe để sau này ngân hàng thu xe lại ông L sẽ đối chiếu ngân hàng hợp đồng đó để bên ngân hàng bồi thường khoản tiền đó lại. Thời điểm đó, Công ty D2 gặp khó khăn mất khả năng chi trả nên ông C tin tưởng ông L, ông L đã vạch đường cho ông C nói liên lạc với ngân hàng P nói ông L mua xe nên bên anh N OCB xuống làm việc với ông L tại đối diện 123 X cafe C, hai bên trao đổi còn lái xe ông L đánh xe 03059 đi sau đó có người chứng kiến sự việc tại cafe M, trước đó Ngân hàng V1 báo xuống niêm phong 2 xe 03569 và 03581 thì ông L báo tôi cho 2 lái xe và ông L đánh đi cất tại Quảng Nam giáp với Đà Nẵng hướng gần Điện N1, người đánh xe đi cất là ông C1 và ông T thời gian sau này để ông L đối phó xử lý ngân hàng dùm cho. Sau đó vài ngày sau ông L nói đem hợp đồng xuống ông C ký và giải thích với ông C là ký hợp đồng này để phòng ngừa sau này ngân hàng thu thì ông L đưa hợp đồng ra để Ngân hàng bồi thường lại hợp đồng đó, trong thời gian đó đem xe đi cất và tháo gỡ hết đồ phụ kiện ra cất rồi giao xe lại ngân hàng cái xác xe rồi sau đó đưa người vào đấu giá mua lại. Lúc dịch bệnh khó khăn ông C lại tin người quá nên sự việc lại xảy ra như hôm nay. Hè năm 2022 ông C liên lạc lấy xe lại giao ngân hàng vì ông C phát hiện ra ông L âm mưu mục đích giữ xe của ông C để cho người trong Q thuê lại, Ông C điện thoại thì ông L không nghe máy, ông C nhắn tin nội dung lấy xe lại thì ông L có nhắn tin lại kích động ông C để ông C nhắn tin lại nói nhưng lời đe doạ vậy nên ông L gởi đến Công an quận C triệu tập ông C lên giải quyết. Quá trình trình bày tại toà án ông L khai không đúng sự thật. Hiện bây giờ hoàn cảnh ông C rất khó khăn, Công ty phá sản nhà không có, con 5 đứa thơ dại, cha già năm nay 70 tuổi, nhà đang ở ngân hàng đang xử lý bán, ông C là lao động chính bữa no, bữac đói rất mong cơ quan các cấp xem xét xử lý đúng sự việc. Ông C xác định các Hợp đồng thuê xe và các thanh lý thuê xe, phiếu chi mà nguyên đơn cung cấp là do Công ty D2 ký để hợp thức giấy tờ nhờ ông Đào Ngọc L xử lý nợ Ngân hàng, Công ty D2 không nhận tiền do Công ty V thanh toán thuê xe nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các hợp đồng thuê xe, các phiếu chi tiền nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty D2 phải trả cho Công ty V số tiền 1.080.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của vị Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa Công ty V và Công ty D2 có địa chỉ trụ sở tại K149 H L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về nội dung tranh chấp: Giữa Công ty V và Công ty D2 có ký kết các hợp đồng cho thuê xe ô tô khách số 01/2020/VTA-CMH ngày 20/01/2020, Hợp đồng thuê xe số 02/2020/VTA-CMH ngày 25/01/2020, Hợp đồng thuê xe số 03/2020/VTA-CMH ngày 25/01/2020 để thuê 03 xe ô tô 47 chỗ ngồi có biển kiểm soát 43B-035.69; 43B-035.81; 43B030.59. Mục đích thuê xe để phục vụ vận chuyển khách du lịch tham quan. Thực hiện các hợp đồng thuê xe Công ty V đã thanh toán cho Công ty D2 số tiền đặt cọc thuê 3 xe là 1.080.000.000đ theo 02 phiếu chi số 02/20 ngày 25/01/2020 và 01 phiếu chi số 01/20 ngày 20/01/2020. Sau khi ký hợp đồng thuê xe vì lý do khách quan các bên không thực hiện hợp đồng thuê xe nữa nên đã ký các Thanh lý hợp đồng thuê xe số 01/2020/TLHĐ ngày 15/3/2020, Thanh lý hợp đồng thuê xe số 02/2020/TLHĐ ngày 01/3/2020, Thanh lý hợp đồng thuê xe số 03/2020/TLHĐ ngày 25/01/2020 để thanh lý các Hợp đồng thuê xe nêu trên. Tại nội dung các thanh lý hợp đồng thuê xe ô tô khách đều thể hiện nội dung: “...Bên cho thuê xe Công ty D2 sẽ chuyển khoản lại số tiền mà bên thuê xe Công ty V đã tạm ứng trước đây vào tài khoản của Công ty V...” nhưng Công ty D2 vẫn không thực hiện. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn Công ty D2 hoàn trả lại cho Công ty V số tiền 1.080.000.000 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi triệu đồng).

Đại diện hợp pháp của Công ty D2 xác nhận giữa Công ty V và Công ty D2 có ký rất nhiều hợp đồng thuê xe và nhiều thanh lý thuê xe. Mục đích ký các hợp đồng thuê xe là để đối phó xử lý nợ Ngân hàng chứ không có việc cho thuê xe lấy tiền. Do đó, Công ty D2 không đồng ý trả tiền cho Công ty V.

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Giao dịch thuê xe giữa Công ty V và Công ty D2 được lập thành văn bản, hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc gì. Các hợp đồng này thỏa mãn về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng do lý do khách quan các bên cũng đã tự nguyện ký các thanh lý đối với các hợp đồng thuê xe đã ký kết và thỏa thuận Công ty D2 sẽ chuyển khoản lại số tiền mà bên thuê xe Công ty V đã tạm ứng trước đây vào tài khoản của Công ty V nhưng Công ty D2 không thực hiện việc trả tiền.

Hội đồng xét xử căn cứ vào 02 phiếu chi tiền số 02/20 ngày 25/01/2020 và 01 phiếu chi tiền số 01/20 ngày 20/01/2020(có chữ ký của ông Từ Tấn C và đóng dấu của Công ty D2) xác định Công ty V đã giao cho Công ty D2 số tiền đặt cọc thuê xe là 1.080.000.000đ; căn cứ các thanh lý hợp đồng thuê xe có nội dung Công ty D2 nhận lại xe và sẽ chuyển khoản lại số tiền tạm ứng thuê xe đã nhận cho Công ty V nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty V. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự nên cần buộc Công ty D2 phải trả cho Công ty V số tiền 1.080.000.000đ.

[2.2] Tại phiên toà, ông C là đại diện của Công ty D2 khai không nhận tiền từ Công ty V, các hợp đồng thuê xe chỉ là hợp thức để nhằm mục đích đối phó với việc thu hồi tài sản của ngân hàng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về vấn đề này. HĐXX xét thấy sau khi ký hợp đồng cho thuê xe các bên vẫn bàn giao xe, nhận tiền và sau khi dịch Covid diễn ra, việc kinh doanh không hiệu quả nên các bên có ký kết 03 thanh lý thuê xe nên không có cơ sở xem xét giao dịch này chỉ là việc hợp thức giấy tờ để đối phó với các ngân hàng. Đồng thời bị đơn có trình bày ý kiến: tại thời điểm thuê xe, thì xe ô tô BKS 43-03059 do Ngân hàng TMCP P đang thu giữ không có việc bàn giao xe, việc ký các hợp đồng thuê xe chỉ nhằm đối với với ngân hàng. Về ý kiến này, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ngân hàng TMCP P, căn cứ biên bản xác minh ngày 29/7/2024 thể hiện thời điểm ngân hàng thu giữ xe ô tô BKS 43-03059 là ngày 11/12/2020 không phải vào thời điểm ký hợp đồng cho thuê xe khách ngày 25/01/2020. Do đó, các ý kiến trình bày của ông C là không có cơ sở. Đối với ý kiến ông C trình bày về việc có ông C1, ông T biết việc làm giấy tờ thuê xe để đối phó với ngân hàng, HĐXX căn cứ lời khai của ông Bùi Văn C1 thể hiện tại bản án số 22/2023/KDTM-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xác định ý kiến của ông C1 trình bày “...có nghe ông D1 (L) nói với ông C làm giấy tờ thuê xe 43B-03059 để đối phó ngân hàng trong đó ghi số tiền sửa xe để sau này ngân hàng bồi thường...” là vào thời điểm tháng 4/2021 không phải thời điểm tháng 01/2020 nên không có cơ sở để xác định những người này là người làm chứng trong vụ án.

[2.3] Đối với nội dung các bản thanh lý cho thuê xe số 03/20/TLHĐ ngày 01/03/2020 để thanh lý hợp đồng số 02/2020/VTA-CMH có nội dung “...Sau khi đã thực hiện hợp đồng số 05/2020/VTA-CMH ký kết ngày 20/4/2020..."; thanh lý số 03/2020/TLHĐ ngày 01/3/2020 để thanh lý hợp đồng số 03/2020/VTA-CMH có nội dung “...Sau khi đã thực hiện hợp đồng số 04/2020/VTA-CMH ký kết ngày 15/4/2020...” và thanh lý số 01/2020/TLHĐ ngày 15/3/2020 để thanh lý hợp đồng số 01/2020/VTA-CMH có nội dung “...Sau khi đã thực hiện hợp đồng số 05/2020/VTA-CMH ký kết ngày 20/4/2020...”. Nguyên đơn, bị đơn đều xác định không có hợp đồng thuê xe này, phía nguyên đơn xác định nội dung này là nội dung nhầm lẫn trong việc đánh máy, chỉnh sửa văn bản. HĐXX xét thấy ngoài nội dung nhầm lẫn nêu trên thì các văn bản đều thể hiện cụ thể nội dung thanh lý đối với từng xe ô tô mà các bên đã ký hợp đồng nên xác định các bên đã có thỏa thuận về việc chấm dứt đối với các hợp đồng thuê xe là có thật.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo yêu cầu bị đơn về việc có thực hiện yêu cầu phản tố về tranh chấp tiền thuê xe, tranh chấp về việc sau khi thanh lý bên Công ty V vẫn giữ xe không nhưng phía bị đơn không có yêu cầu. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn ông C có trình bày ý kiến về tranh chấp thanh toán tiền thuê xe đối với các Hợp đồng thuê xe nêu trên. HĐXX xác định yêu cầu phản tố là yêu cầu không nằm trong trong yêu cầu của nguyên đơn, có thể được giải quyết bằng một vụ án độc lập, việc giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án là để kết quả giải quyết chính xác và nhanh hơn. Yêu cầu phản tố cũng chính là yêu cầu khởi kiện nên phải tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục khởi kiện. Do đó, việc Công ty D2 không thực hiện việc yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết. Sau này nếu Công ty D2 có tranh chấp và khởi kiện theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Trong quá trình Tòa án giải quyết các bên đương sự đều có trình bày đến các hợp đồng thuê xe ký năm 2021. HĐXX xét thấy đây là các giao dịch dân sự khác không liên quan đến vụ án nên không xem xét giải quyết.

[4] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát về nội dung phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm 44.400.000đồng (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) bị đơn phải chịu. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • - Điều 4 Luật thương mại.
  • - Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH V đối với bị đơn Công ty TNHH D2 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.

Xử:

  1. Buộc Công ty TNHH D2 phải trả cho Công ty TNHH V số tiền 1.080.000.000đồng (Một tỷ không trăm tám mươi triệu đồng y).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

  2. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: 44.400.000đồng (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) Công ty TNHH D2 phải chịu. Hoàn trả cho Công ty TNHH V 22.200.000đ(Hai mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001283 ngày 18/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/KDTM-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 27/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê xe
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger