|
TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ - ST
Ngày 15/7/2024
“V/v ly hôn giữa anh Thái
và chị Linh”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lục Viết Sang
2. Bà Vũ Thị Thu Ngát
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nhung- Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 17 /4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-DS ngày 17/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vi Văn T, năm 1982
Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Đàm Thị L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là anh Vi Văn T trình bày: Anh và chị Đàm Thị L kết hôn với nhau năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y. Vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị L bỏ đi làm không về nhà, anh đã đem đồ đạc của chị L trả về nhà ngoại. Từ đó đến nay anh chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng, không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là Vi Văn Đ, sinh ngày 24/12/2008, hiện con chung của anh chị đang ở cùng bà nội, đời sống và sức khoẻ vẫn được đảm bảo. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn là chị Đàm Thị L, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, giao các văn bản tố tụng nhưng chị L không đến Tòa án làm việc, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Vi Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung. Về hoàn cảnh gia đình, anh trình bày năm 2022 gia đình anh thuộc hộ nghèo, năm 2023 là hộ cận nghèo, năm 2024 thì không còn là hộ nghèo hay hộ cận nghèo nữa. Bị đơn là chị Đàm Thị L vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi văn T được ly hôn chị Đàm Thị L.
- Về con chung: Giao cháu Vi Văn Đ, sinh ngày 24/12/2008 cho anh Vi Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đàm Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.
- Về án phí: Anh Vi Văn T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền: Anh Vi Văn T và chị Đàm Thị L đều cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù bị đơn là chị Đàm Thị L vắng mặt nhưng chị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên cần áp dụng khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị L.
[3]. Xem xét yêu cầu của anh Vi Văn T xin ly hôn chị Đàm Thị L: Anh T và chị L kết hôn với nhau ngày 14/01/2008 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian dài chung sống hoà thuận và đã con chung nhưng đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do chị L đi làm ăn không về nhà, anh T đã đem tư trang cá nhân của chị L trả về bên ngoại. Do không dàn xếp được nên anh chị đã ly thân nhau từ đó đến nay, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau nữa. Nay anh T vẫn cương quyết xin ly hôn, còn chị L không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên hòa giải, cũng không không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh T, chứng tỏ chị L cũng không có nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của anh T, xử cho anh T được ly hôn chị L.
[4]. Về con chung: Anh chị có 1 con chung là Vi Văn Đ, sinh ngày 24/12/2008, hiện cháu đang ở cùng bà nội. Khi ly hôn, nguyện vọng của cháu Đ muốn được ở với mẹ cháu là chị Đàm Thị L, tuy nhiên, chị L không đưa ra yêu cầu của mình về việc nuôi con chung, mặt khác, anh T yêu cầu được nuôi con. Vì vậy, cần giao cho anh Vi văn T trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh T tự nguyện không yêu cầu nên nghĩa vụ này không đặt ra đối với chị L cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
[5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Anh Vi Văn T hiện không còn thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, cũng thuộc trường hợp nào khác quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên anh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Văn T được ly hôn chị Đàm Thị L.
2/ Về con chung: Giao cho anh Vi văn T trực tiếp nuôi con chung là Vi Văn Đ, sinh ngày 24/12/2008. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra cho đến khi đương sự có yêu cầu.
3/ Án phí: Anh Vi Văn T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a, 9 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 27/2024/HNGĐ - ST ngày 15/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Thái Linh
