|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 27/2023/HNGĐ -PT Ngày: 28/12/2023 “V/v: tranh chấp HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Từ - Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Ly - Thư ký Toà án.
- Đại diện VKSND tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết L,
Chức vụ: Kiểm sát viên trung cấp
Trong các ngày 28 và 29 tháng 13 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số /2023/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp về HNGĐ” giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hải Y, sinh năm 1996. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Anh Phạm Thành C – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Đức L1, chi nhánh H2. Có mặt
Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Phạm Quyết T, sinh năm 1996. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lương Thượng T1, sinh năm 1942. Vắng mặt.
3.2. Bà Tạ Thị G, sinh năm 1952. Vắng mặt
Cùng trú tại: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
3.3. Bà Lương Thị H, sinh năm 1974. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
3.4. Chị Phạm Hiền L2, sinh năm 2003. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà G, chị L2: Bà Lương Thị H, sinh năm 1974. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
3.5. Bà Trần Thị L3, sinh năm 1972. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
3.6. Công ty T2 (V)
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà R, số I, đường Đ, phường A, quận D, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Lô B, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lương Hoàng Y1, trưởng Phòng Tố tụng – VPB SMBC FC. Có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Hải Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quyết T đã đăng ký kết hôn ngày 12/10/2016 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn khiến tình cảm bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2022 đến nay, chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An sinh sống và không còn qua lại hỏi thăm nhau nữa. Mặc dù đã được gia đình hai bên gia đình nhiều lần góp ý, khuyên nhủ nhưng không thể cải thiện được tình cảm của vợ chồng. Nay tình cảm giữa chị và anh T không còn cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, chị đề nghị được ly hôn với anh Phạm Quyết T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017. Hiện nay cháu C1 đang ở với chị Y tại thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị và anh T không ai có con nuôi, con riêng.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có các khoản nợ chung như sau: Vay chị Phạm Hiền L2 (em gái anh T) số tiền 4.200.000đ vào khoảng tháng 10, tháng 11 năm 2021 phục vụ cho chi tiêu trong gia đình, khi vay do chị em trong nhà nên không viết giấy, chị có thông báo với anh T. Vay bà Lương Thị H (mẹ đẻ anh T) số tiền 30.000.000đ vay vào năm 2020, mục đích vay phục vụ cho gia đình, anh T có biết. Khoản vay này bà H chuyển khoản đến số tài khoản của chị mở tại Ngân hàng T3, số tài khoản 02053861201 tên Nguyễn Hải Y và không viết giấy vay tiền. Vay bà Trần Thị L3 (mẹ đẻ chị) số tiền 60.000.000đ. Số tiền này bà L3 chuyển khoản cho anh T sau đó hai vợ chồng chị viết giấy vay tiền, anh T và chị có ký xác nhận nợ. Số tiền này vợ chồng chị chưa trả cho bà L3. Tổng cộng số nợ chung là 94.200.000₫ (Chín mươi tư triệu hai trăm nghìn đồng). Chị đề nghị Tòa án chia đôi số nợ trên cho chị và anh T, mỗi người chịu trách nhiệm trả một nửa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Y ông Phạm Thành C thống nhất với lời khai của chị Y, không có ý kiến bổ sung.
Tại bản tự khai ngày 08/02/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Quyết T trình bày: Anh thống nhất như lời trình bày của chị Y về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng vào ngày 19/02/2022, anh phát hiện chị Y có quan hệ tình cảm với người khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2022 đến nay. Quá trình sống ly thân, vợ chồng đã được gia đình khuyên bàn nhưng không thể hòa hợp được. Nay chị Y đề nghị ly hôn, anh cũng đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn.
Anh và chị Y có 01 con chung là Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017. Hiện nay cháu C1 đang ở với chị Y tại thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ly hôn anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống anh và chị Y có các khoản nợ chung gồm:
1. Nợ chị Phạm Hiền L2 số tiền là 24.200.000đ. Cụ thể các lần vay như sau: Vào tháng 9, 10, 11 năm 2021 chị Y vay số tiền 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng), chị Y trực tiếp lấy số tiền này từ chị L2; Tháng 12/2021 anh và chị Y nhờ vay hộ 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), chị L2 đã chuyển khoản vào tài khoản của anh số tiền 4.000.000đ, anh sử dụng số tiền này để trả nợ trong quá trình kinh doanh điện thoại; Tháng 01/2022 anh và chị Y mang máy tính của chị L2 bán được 16.000.000đ, anh và chị Y sử dụng hết số tiền này. Quá trình đó không viết giấy vay tiền. Đến khi chị Y xin ly hôn thì chị L2 mới viết giấy xác nhận vay tiền, giấy đó vợ chồng không viết và ký vào, mà chỉ có giấy xác nhận vay tiền của chị L2.
2. Vay bà Lương Thị H các lần:
Tháng 5/2020 vợ chồng anh có nhờ bà H vay số tiền là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), lãi suất 0,65%/tháng, bà H đã chuyển khoản cho anh.
Tháng 4/2021 vợ chồng anh có mở cửa hàng kinh doanh nên nhờ bà H vay hộ số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), lãi suất 1%/tháng. Ngày 09/4/2021 bà H chuyển khoản từ tài khoản của bà H sang tài khoản của anh số tiền là 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng), còn 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đưa tiền mặt cho mự Trần Thị Bích H1 để đưa tiền trực tiếp cho chị Y.
Tháng 12/2021 vợ chồng anh có nhờ bà H vay hộ, ngày 01/01/2022 bà H trực tiếp đưa số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để trả nợ, số tiền này bà H đưa trực tiếp cho chị Y.
Tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến tháng 3/2023 mà bà Lương Thị H đã vay hộ cho vợ chồng anh là 196.760.000đ (Một trăm chín mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó gốc vay là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), lãi suất: 26.760.000đ (hai mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Tất cả các khoản vay trên của bà H do là mẹ con nên không viết giấy vay tiền. Đến khi chị Y có yêu cầu ly hôn thì mới viết giấy xác nhận nợ, vợ chồng không ký vào giấy xác nhận nợ ngày 25/02/2023.
3. Vay ông Lương Thượng T1, sinh năm 1942, bà Tạ Thị G, sinh năm 1952, trú tại: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương là ông ngoại của anh T. Ngày 19/3/2021 ông Lương Thượng T1 mới chuyển khoản qua tài khoản của anh số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Giấy vay nợ hai vợ chồng không viết và ký, mà chỉ có giấy xác nhận vay tiền của ông T1, bà G.
4. Ngày 17/12/2020 anh T có vay vốn Công ty T2 với số tổng tiền gốc vay là 53.750.000đ, vay tín chấp, thời hạn 36 tháng. Hợp đồng do một mình anh T ký, chị Y không ký vào hợp đồng, nhưng trong hợp đồng có thông tin chị Y là vợ, ngân hàng có gọi cho chị Y để xác nhận thông tin và thông báo khoản vay. Quá trình vay nợ, anh T và thỉnh thoảng có nhờ bà H là mẹ trả tiền gốc khi đến hạn. Tính đến nay anh T đã trả được số tiền 31.250.000đ, còn nợ 86.184.819đ (Tám mươi sáu triệu một trăm tám mươi tư nghìn tám trăm mười chín đồng), trong đó tiền gốc 23.000.000đ, tiền lãi 63.684.819₫.
5. Ngày 27/3/2021 vợ chồng có vay tiền bà Trần Thị L3 là mẹ đẻ của chị Y số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng), giấy vay tiền hai vợ chồng đã ký vào. Cụ thể: ngày 22/3/2021 bà Trần Thị L3 đã chuyển khoản qua tài khoản của anh số tiền là 30.000.000đ, ngày 21/3/2021 bà Trần Thị L3 đã chuyển khoản qua tài khoản của anh số tiền là 30.000.000đ.
Ngày 11/5/2021 anh chuyển khoản cho chị Y, để chị Y trả tiền cho bà L3 số tiền là 23.000.000₫.
Ngày 11/5/2021 bà L3 chuyển khoản vào tài khoản của anh để vợ chồng anh vay số tiền là 20.000.000đ.
Ngày 25/5/2021 anh đã chuyển khoản qua tài khoản của bà L3 để trả nợ số tiền 20.000.000đ.
Như vậy tổng số tiền vợ chồng anh vay bà L3 số tiền là 80.000.000đ (trong đó có 60.000.000₫ viết giấy vay nợ, còn 20.000.000đ chuyển khoản vào ngày 11/5/2021), đã trả 43.000.000đ, vợ chồng còn nợ bà L3 số tiền là 37.000.000đ, không phải là 60.000.000đ như giấy vay tiền mà chị Y đã xuất trình.
Anh và chị Y mỗi người chịu trách nhiệm trả một nửa đối với tất cả các khoản vay trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị H trình bày: Thống nhất như lời khai của anh T về việc vợ chồng anh T, chị Y vay nợ bà. Nay bà yêu cầu anh T, chị Y phải có trách nhiệm trả nợ cho bà: khoản vay tháng 5/2020 với số tiền là 30.000.000đ, không yêu cầu lãi suất; Khoản vay tháng 4/2021 là 100.000.000₫ và lãi suất 1% từ tháng 4/2021 đến khi anh T, chị Y trả hết nợ; Khoản vay tháng 12/2021 số tiền 40.000.000₫
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà G, chị L2. Bà Lương Thị H thống nhất với trình bày của anh Phạm Quyết T về việc vợ chồng anh T, chị Y vay nợ. Bà yêu cầu anh T, chị Y phải có trách nhiệm trả nợ cho ông T1, bà G số tiền 20.000.000đ, không yêu cầu lãi suất và trả nợ cho chị L2 số tiền 24.200.000đ, không yêu cầu lãi suất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L3 trình bày: Bà thống nhất với lời khai của chị Y. Bà cho vợ chồng anh T, chị Y vay 3 lần với tổng số tiền là 80.000.000đ và đều chuyển khoản qua tài khoản của anh T. Cụ thể: Vào tháng 3/2021 bà chuyển khoản 2 lần, mỗi lần 30.000.000đ, ngày 27/3/2021 anh T, chị Y đã viết giấy vay tiền để xác nhận khoản vay 60.000.000đ. Ngày 11/5/2021 bà chuyển khoản vào tài khoản anh T số tiền 20.000.000đ. Đến ngày 25/5/2021 anh T chuyển khoản vào tài khoản của bà để trả số tiền vay là 20.000.000đ. Nay bà yêu cầu anh T, chị Y phải có trách nhiệm trả bà số tiền vay là 60.000.000đ, lãi suất không yêu cầu.
Tại Văn bản số 09/CV-XLTD.23 ngày 10/5/2023 của Công ty T2 có nội dung: Ngày 18/12/2020 anh Phạm Quyết T ký Hợp đồng tín dụng số 20201218-6940425 với công ty V1 số tiền 53.750.000đ, lãi suất thỏa thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận anh T phải thanh toán cho công ty tổng số tiền 117.434.819đ, trong đó tiền gốc 53.750.000đ, tiền lãi: 63.684.819đ, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, bắt đầu từ ngày 18/01/2021. Thực hiện hợp đồng anh T đã nhận đủ số tiền trên và tính đến ngày 10/5/2023 anh T đã thanh toán số tiền 31.250.000đ, số tiền còn lại phải thanh toán là 86.184.819đ. Do hợp đồng chưa hết thời hạn nên công ty không có yêu cầu thanh toán đối với khoản vay của anh T, trường hợp anh T muốn thanh lý sớm Hợp đồng liên hệ trực tiếp với công ty. Hợp đồng chỉ có anh T ký và vay với mục đích với mục đích tiêu dùng cá nhân nên công ty chỉ yêu cầu cá nhân anh T chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay. Vì không có nhân sự phụ trách nên công ty đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
Kết quả xác minh tại UBND xã S cho biết: Chị Nguyễn Hải Y và anh Phạm Quyết T đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, không đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn anh T và chị Y không sinh sống ở địa phương nên nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm rõ. Chị Y và anh T có 01 con chung là Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017. Hiện nay cháu C1 đang ở với chị Y tại thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị Y đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về con, chia tài sản chung khi ly hôn địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án sơ thẩm số..ngày tháng năm của TAND huyện Quỳnh Lưu đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 12, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hải Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hải Y được ly hôn anh Phạm Quyết T.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Nguyễn Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản: Chị Y, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Phạm Quyết T, buộc anh Phạm Quyết T có nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng gồm: bà Trần Thị L3 số tiền 12.900.000đ (Mười hai triệu chín trăm nghìn đồng), bà Lương Thị H số tiền nợ 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), chị Phạm Hiền L2 số tiền 4.200.000₫ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Buộc chị Nguyễn Hải Y có nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng cho bà Trần Thị L3 số tiền 47.100.000₫ (Bốn mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).
Đình chỉ xét xử yêu cầu về lãi suất của khoản vay 30.000.000₫ bà H đã cho anh T, chị Y vay nợ vào tháng 5/2020.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Quyết T về khoản vay của ông Lương Thượng T1, bà Tạ Thị G, chị Phạm Hiền L2, một phần khoản vay của bà Lương Thị H. Buộc anh Phạm Quyết T có nghĩa vụ trả nợ riêng gồm: ông Lương Thượng T1 và bà Tạ Thị G số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); bà Lương Thị H số tiền 168.000.000đ (trong đó gốc vay là 140.000.000đ, lãi suất 28.000.000đ); chị Phạm Hiền L2 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Quyết T về khoản vay Công ty T2. Anh Phạm Quyết T tiếp tục thực hiện hợp đồng vay với Công ty T2.
Ngoài ra bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự
Ngày.......bị đơn anh Phạm Quyết T làm đơn kháng cáo về phần con chung và phần nợ chung. Tại phiên tòa phúc thẩm anh T tút kháng cáo phần con chung, nhất trí giao con chung cho chị Y nuôi như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Phạm Quyết T, sửa bản án sơ thẩm về phần nợ chung cụ thể chấp nhận khoản nợ bà H chuyển khoản cho anh T số tiền 80.000.000đ, buộc hai bên có nghĩa vụ trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Quyết T làm trong hạn luật định, hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm
Về việc xét xử vắng mặt: Các đương sự ông Lương Thượng T1, bà Tạ Thị G, chị Phạm Thị Hiền L4, bà Lương Thị H vắng mặt nhưng có văn bản ủy quyền cho anh Phạm Quyết T tham gia phiên tòa. Người có quyền lợi liên quan Công ty T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đưa vụ án ra xét xử những người trên phù hợp quy định khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Các bên không kháng cáo nên phần quan hệ hôn nhân của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Về con chung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận nguyện vọng về con của chị Y. Giao con chung là Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Nguyễn Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ . Tại phiên tòa phúc thâm, anh Phạm Quyết T rút kháng cáo về phần con chung; Căn cứ Điều 289 BLTTDS đình chỉ phần kháng cáo về con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[2.4]. Về nợ chung: Hai bên thống nhất có các khoản nợ chung sau:
- Nợ bà Lương Thị H : 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Nợ chị Phạm Hiền L4 số tiền 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
- Nợ bà Trần Thị L3 60.000.000 đồng.
Các khoản vay này được các bên thừa nhận. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 BLTTDS. Bản án sơ thẩm kết luận đây là khoản nợ chung vợ chồng và buộc hai bên có nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.
Ngoài ra, theo anh T, vợ chồng còn có các khoản nợ:
Nợ ông Lương Thượng T1 và bà Tạ Thị G (ông bà nội anh T) số tiền 20.000.000₫.
Nợ thêm bà Lương Thị H số tiền 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng triệu đồng), lãi suất 1%/tháng, trong đó bà H chuyển khoản cho anh T số tiền 80.000.000đ, số tiền 20.000.000đ nhờ Trần Thị Bích H1 đưa trực tiếp cho chị Y. Đến tháng 12/2021 bà H tiếp tục vay hộ cho vợ chồng số tiền 40.000.000đ để trả nợ, số tiền này bà H đưa trực tiếp cho chị Y, khoản vay này không có lãi và bà không yêu cầu về lãi suất. Nay bà H yêu cầu anh T, chị Y phải trả số tiền nợ gốc 170.000.000đ. Về lãi suất: bà yêu cầu anh T, chị Y phải trả lãi suất 1%/tháng của khoản vay 100.000.000₫ vào tháng 4/2021 kể từ khi vay đến khi trả hết nợ.
Nợ thêm chị Phạm Hiền L4: anh T khai vợ chồng có nợ chị L4 24.200.000đ. Chị Y chỉ thừa nhận nợ 4.200.000 đồng mà hai bên thống nhất ở trên.
Để chứng minh cho các khoản vay trên, anh T xuất trình là các giấy vay, xác nhận nợ nhưng không có chữ ký của chị Y; chị Y không thừa nhận các khoản vay này. Qua đối chiếu sao kê tài khoản của anh T mở tại Ngân hàng TMCP T3, ngày 09/4/2021 bà Lương Thị H chuyển khoản đến 80.000.000đ; ngày 21/5/2021 có nội dung "Mo Hao ck” số tiền 40.000.000đ. Theo anh T, mục đích vay để vợ chồng mở ốt kinh doanh sửa chữa điện thoại với số vốn khoảng 300.000.000 đồng. Do dịch covit nên ki ốt chỉ hoạt động được khoảng vài tháng phải đóng cửa và thanh lý đồ đạc nên thua lỗ. Theo chị Y, số vốn để mở kiốt điện thoai vay của bà Trần Thị L3 và bà Lương Thị H tổng hơn 100.000.000 đồng đã kê khai ở trên, ngoài ra, do thời gian mở ốt rất ngắn khoảng 6 tháng và anh T đã thanh lý toàn bộ máy móc đồ dùng trong ki ốt, số tiền thanh lý do anh T giữ.
Xét thấy, theo Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho mình phải thu thập cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”, nhưng bị đơn chưa xuất trình được các tài liệu chứng cứ chứng minh đây là khoản nợ chung vợ chồng. Tại các nội dung chuyển khoản không chứng minh được việc bà H chuyển tiền là cho hai vợ chồng vay nên chưa đủ cơ sở xác định khoản vay tháng 4/2021 số tiền 100.000.000đ và khoản vay tháng 12/2021 số tiền 40.000.000đ là nợ chung của chị Y và anh T mà là khoản vay riêng của anh T.
Đối với khoản vay của Công ty T2: Theo Hợp đồng tín dụng số 20201218 – 6940425 ngày 18/12/2020 được ký giữa Công ty T2 với anh Phạm Quyết T, chỉ một mình anh T ký, khoản vay với mục đích tiêu dùng cá nhân, công ty đã giải ngân đầy đủ cho anh T số tiền vay nên công ty chỉ yêu cầu cá nhân anh T chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay, công ty chưa yêu cầu anh T thanh toán khoản vay do chưa đến hạn thanh toán. Do đó không đủ cơ sở xác định đây là khoản nợ chung của anh T và chị Y, nên anh T tiếp tục thực hiện hợp đồng vay với Công ty T2.
Vì vậy, bản án sơ thẩm đã buộc anh T có nghĩa vụ trả các khoản nợ đã kê khai trên là có căn cứ.
Từ các nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần phân chia nợ. Đình chỉ kháng cáo về phần nuôi con chung
[3] Về án phí: kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 300.000đồng án phí phúc thẩm
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 289, Điều 308 BLTTDS: Đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo về nuôi con chung; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Quyết T về phần chia nợ chung; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Khoản 1 Điều 273, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 12, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hải Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hải Y được ly hôn anh Phạm Quyết T.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Mai C1, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Nguyễn Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T vì chị Y không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản: Chị Y, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Phạm Quyết T, buộc anh Phạm Quyết T có nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng gồm: bà Trần Thị L3 số tiền 12.900.000₫ (Mười hai triệu chín trăm nghìn đồng), bà Lương Thị H số tiền nợ 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), chị Phạm Hiền L4 số tiền 4.200.000₫ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
- Buộc chị Nguyễn Hải Y có nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng cho bà Trần Thị L3 số tiền 47.100.000₫ (Bốn mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).
- Đình chỉ xét xử yêu cầu về lãi suất của khoản vay 30.000.000đ bà H đã cho anh T, chị Y vay nợ vào tháng 5/2020.
- - Không chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Quyết T về khoản vay của ông Lương Thượng T1, bà Tạ Thị G, chị Phạm Hiền L4, một phần khoản vay của bà Lương Thị H. Buộc anh Phạm Quyết T có nghĩa vụ trả nợ cho: ông Lương Thượng T1 và bà Tạ Thị G số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); bà Lương Thị H số tiền 168.000.000₫ (trong đó gốc vay là 140.000.000đ, lãi suất 28.000.000đ); chị Phạm Hiền L4 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền phải thi hành án, anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Quyết T về khoản vay Công ty T2. Anh Phạm Quyết T tiếp tục thực hiện hợp đồng vay với Công ty T2.
- Về án phí sơ thẩm
- Chị Nguyễn Hải Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Y phải chịu 2.355.000₫ (Hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, chị Y được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0012608 ngày 24/10/2022. Chị Y còn phải nộp 2.355.000đ (Hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Anh Phạm Quyết T phải chịu 12.755.000đ (Mười hai triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm Hoàn trả cho bà Lương Thị H số tiền tạm ứng án phí 4.920.000đ (Bốn triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) bà H đã nộp theo Biên lai số 0000177 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Quỳnh Lưu.
- Hoàn trả cho chị Phạm Hiền L4 số tiền tạm ứng án phí 605.000₫ (Sáu trăm linh năm nghìn đồng) chị L4 đã nộp theo Biên lai số 00000176 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
- Hoàn trả cho bà Trần Thị L3 số tiền tạm ứng án phí 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000178 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Quyết T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số,,,,,, ngày ............
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật THADS. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THADS.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hngđ
- Số bản án: 27/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về HNGĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa Nguyễn Hải Y- Phạm Quyết T
