|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Học và ông Lê Ngọc Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Nông trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Đ, thôn M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L trong đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2024, bản tự khai ngày 10/5/2024, và tại phiên tòa trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Trần Văn D yêu nhau, đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 27/6/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Đ, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình được 06 năm, chuyển đến sống tại Tổ dân phố A, thị trấn Nông trường L, huyện L tỉnh Quảng Bình sinh sống được 7 năm thì lại chuyển về sinh sống tại Đội 2 thôn M, xã S, huyện L. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do anh D bản tính ham chơi, gia trưởng, bảo thủ, vô tâm, thích áp đặt và ra lệnh người khác theo ý mình. Vợ chồng không có sự tôn trong, chia sẻ dân đến rạn nứt tình cảm không thể hàn gắn được. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ 01/2/2024, không ai liên quan đến cuộc sống của ai. Chị L xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể quay trở lại sống với nhau nên yêu cầu được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 21/5/2009 và Trần Văn T1, sinh ngày 11/3/2015. Hiện nay các con đang sống cùng với mẹ. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Trần Văn D tại phiên tòa trình bày: Về việc kết hôn, chung sống của vợ chồng, anh D cơ bản nhất trí như trình bày của chị L. Chị L yêu cầu ly hôn, anh D đồng ý ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh D1 thừa nhận vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 21/5/2009 và Trần Văn T1, sinh ngày 11/3/2015. Ly hôn anh D1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Trần Văn T1, giao con Trần Thị Thanh T cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh L xin ly hôn anh Trần Văn D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Trần Văn D đăng ký kết hôn ngày 27/6/2008 tại UBND xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung Đội 2 M, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình được 06 năm, chuyển đến sống tại Tổ dân phố A, thị trấn Nông trường L, huyện L tỉnh Quảng Bình sinh sống được 7 năm thì lại chuyển về sinh sống tại Đội 2 thôn M, xã S, huyện L. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do anh D bản tính ham chơi, gia trưởng, bảo thủ, vô tâm, thích áp đặt và ra lệnh người khác theo ý mình. Vợ chồng không có sự tôn trong, chia sẻ dân đến rạn nứt tình cảm không thể hàn gắn được. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ 01/2/2024, không ai liên quan đến cuộc sống của ai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị L và anh D là đúng thực tế, đã xảy ra trong thời dài, không thể hàn gắn được, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung và ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị L và anh D thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được thuận tình ly hôn của chị L và anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về con chung: Xét chị L, anh D có 02 con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 21/5/2009 và Trần Văn T1, sinh ngày 11/3/2015. Hiện nay các con đang sống cùng với mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con Trần Thị Thanh T và Trần Văn T1, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh Dũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Trần Văn T1, giao con Trần Thị Thanh T cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cả chị L và anh D đều có đủ điều kiện về tài chính, nhà cửa ổn định, có thể chăm lo cho cuộc sống và sự phát triển của con cái. Do đó, Hội đồng xét xử nhất trí giao con Trần Thị Thanh T cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con Trần Văn T1 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Trần Văn D.
- Về con chung: Giao con Trần Thị Thanh T, sinh ngày 21/5/2009 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con Trần Văn T1, sinh ngày 11/3/2015 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Sau này, vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Tiền án phí chị L phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0004351 ngày 10/4/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
