Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI


Bản án số: 27/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 19/7/2024

V/v: “Tranh chấp chia tài sản sau

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
  • Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Thu Hương
  • Bà Lê Hồng Hương
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ 16 đến ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 20/2024/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương T, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Số E, Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
  • +Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm: 1981; có mặt; Địa chỉ: Tổ H, ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Vĩnh L, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Số E, Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Chị Trần Thị Phương N, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Số E, Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2023, các lời khai tại phiên tòa và hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Nguyễn Chí H trình bày:

Bà Lê Thị Phương T và ông Trần Vĩnh L sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L vào ngày 12/7/1993. Sau đó, bà T và ông Trần Vĩnh L đã ly hôn theo Bản án số: 123/2017/HNGĐ-ST ngày 19/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Khi ly hôn, về phần tài sản chung thì bà Lê Thị Phương T và ông Trần Vĩnh L không yêu cầu Tòa án giải quyết mà để tự thỏa thuận. Tuy nhiên, hai bên không thoả thuận được nên nay bà T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng là nhà đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, với diện tích: 907,9 m² ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Về nguồn gốc nhà, đất: Năm 2014, bà T và ông Trần Vĩnh L đã được bà Trần Thị N1 (là mẹ ruột của ông L) làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 203, tờ bản đồ số 12 với diện tích: 1.071m² tại xã P, huyện L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 060630, số vào sổ H 02775 do UBND huyện L cấp ngày 02/04/2009 cho bà Trần Thị N1, hợp đồng tặng cho được Văn phòng C công chứng số: 3780/2014, quyển số 09/2014TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/7/2014.

Sau đó, bà T và ông Trần Vĩnh L đã tiến hành đăng bộ và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 số vào sổ cấp GCN: CS 04888 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/6/2018 cho thửa đất số 34 tờ bản đồ số 88 với diện tích: 907,9m² tại địa chỉ ấp L, xã P, huyện L tỉnh Đồng Nai. Khi bà N1 ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì trên đất đã có sẵn căn nhà cấp 4, bà T và ông L có tu sửa lên để ở như hiện nay. Vì vậy, bà T xác định căn nhà và đất tại thửa đất số 34 là tài sản chung của vợ chồng chưa được chia khi ly hôn.

Nhà và đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 trước đây có bà T, ông Trần Vĩnh L, Trần Thị Phương N (con gái), Trần Vĩnh L1 (con trai chung), Nguyễn Thị Thu H1 (con dâu) chung sống chung tại ngôi nhà này. Từ tháng 09 năm 2022 đến nay thì chỉ có ông L và cháu N sinh sống, bà T, cháu L1, cháu H1 đã dọn ra ngoài thuê nhà trọ để sinh sống.

Lý do hợp đồng tặng cho ký năm 2014, cùng năm đó vợ chồng đi đăng ký kê khai, năm 2017 ly hôn, tuy nhiên đến năm 2018 mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng là do thủ tục cấp giấy của cơ quan nhà nước.

Hiện nay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 số vào sổ cấp GCN: CS 04888 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/6/2018 bà T đang giữ.

Đối với bản vẽ số 6163 ngày 20/11/2023 và chứng thư thẩm định giá số 353 ngày 24/11/2023, nguyên đơn đồng ý.

Bà T có nguyện vọng giao nhà và đất trên cho ông L quản lý sử dụng. Đề nghị ông L thanh toán lại ½ giá trị nhà đất cho bà T.

- Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Trần Vĩnh L trình bày:

Ông Trần Vĩnh L và bà T trước đây là vợ chồng. Đến năm 2017, ông L và bà T ly hôn theo Bản án số: 123/2017/HNGĐ-ST ngày 19/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Khi ly hôn ông bà chưa giải quyết về vấn đề tài sản chung.

Ông Trần Vĩnh L xác định thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 với diện tích: 907,9m² tại địa chỉ tại ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà cấp 4 có trên đất là tài sản của mẹ ông L cho ông L và bà T với điều kiện còn là vợ chồng, còn khi ly hôn rồi thì đây là tài sản riêng của ông L, không phải là tài sản chung của vợ chồng.

Nguồn gốc nhà và đất trên là của cha mẹ ruột ông L khai phá. Đến năm 2009 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/4/2009 tại thửa đất số 203, tờ bản đồ số 12, xã P với diện tích 1071m². Đến năm 2014, mẹ ông L là bà Trần Thị N1 có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông L và bà Lê Thị Phương T, hợp đồng tặng cho được Văn phòng C công chứng số: 3780/2014, quyển số 09/2014TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/7/2014. Do thời điểm đó ông L không am hiểu pháp luật nên để cho bà T đứng tên trên hợp đồng tặng cho. Sau ký hợp đồng tặng cho, bà T là người đi đăng ký kê khai, đến 18/6/2018 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 đứng tên ông L và bà T tại thửa đất số 34 tờ bản đồ số 88 với diện tích: 907,9 m².

Khi mẹ ông L tặng cho thửa đất 34 thì trên đất có sẵn căn nhà cấp 4, vợ chồng có tu sửa cải tạo nhà đất nhưng không đáng kể.

Hiện nay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 số vào sổ cấp GCN: CS 04888 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/6/2018 bà T đang giữ.

Đối với bản vẽ số 6163 ngày 20/11/2023 và chứng thư thẩm định giá số 353 ngày 24/11/2023, ông L đồng ý.

Hiện nay trên phần đất và nhà tranh chấp chỉ có ông và con gái N đang sinh sống. Ngoài ra không còn ai sinh sống.

Nay bà T yêu cầu chia tài sản của vợ chồng sau ly hôn, ông không đồng ý vì mẹ ruột ông cho vợ chồng với điều kiện phải sống đến cuối đời nhưng nay đã ly hôn thì không còn là tài sản chung của vợ chồng nữa. Nếu có

hỗ trợ thanh toán thì ông chỉ đồng ý thanh toán lại cho bà T 1.000.000.000 đồng.

- Tại bản tự khai đề ngày 12/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Phương N trình bày:

Ba chị tên là Trần Vĩnh L, mẹ chị tên Lê Thị Phương T, hiện tại chị đang ở với ba tại ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chị sống tại nhà và đất hiện nay mẹ chị đang tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện, chị không có ý kiến gì, chị chỉ liên quan đến việc sinh sống tại nhà và đất trên nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành quyết định :

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147 và khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 59, Điều 62 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 95, Điều 99 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia tài sản chung sau khi ly hôn, cụ thể như sau:

  • - Giao cho ông Trần Vĩnh L được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 907,9m² (trong đó: ONT: 300m², CLN: 607,9m²); được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 6163 ngày 20/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2. Phần diện tích đất ông Trần Vĩnh L được quyền sử dụng được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 ngày 18/02/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T.
  • - Giao cho ông Trần Vĩnh L được toàn quyền sở hữu nhà ở và công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 907,9m² được chia nêu trên gồm:
    • + Nhà ở gia đình diện tích 125,7 m². Kết cấu: Móng, cột gạch, xà gồ gỗ, mái tôn, trần nhựa + tôn lạnh, tường gạch sơn nước, nền gạch ceramic, cửa đi chính + cửa sổ khung sắt kính, cửa phòng nhôm kính + nhựa. Khu bếp: Thành gạch, kệ đan bê tông cốt thép, mặt ốp gạch ceramic. Khu vệ sinh: Tường ốp gạch ceramic, trên sơn nước, nền gạch ceramic nhám, cửa nhựa, xí bệt.
    • + Nhà tạm có diện tích 13m². Kết cấu: Cột sắt, xà gồ gỗ, mái fibro xi măng, nền gạch ceramic, hệ vách khung sắt, tôn (01 bên vách sử dụng chung tường nhà ở).
  • + Mái hiên có diện tích 9 m². Kết cấu: Cột, xà gồ sắt, mái tôn, nền xi măng.
  • + 01 Giếng đào. Kết cấu: Đào sâu 7,5m, đường kính Φ 0,8m, nắp đậy tấm đan bê tông xi măng.
  • + 01 Giếng khoan. Kết cấu: Khoan sâu 30m, đường kính Φ 140mm.
  • + Tháp nước + bồn nước. Kết cấu: Khung giằng thép V cao 6m, cầu thang sắt hộp, bồn nhựa dạng đứng, thể tích 700 lít.
  • + Tường rào, diện tích 76,2 m. Kết cấu: Móng, cột gạch, tường gạch dày 100mm, cao 2m, không tô trát.
  • + Cổng, hàng rào có diện tích 27,29 m. Kết cấu: Cổng: Trụ cổng 400 x 400mm bê tông cốt thép, cao 2,9m, cổng khung song sắt hộp, cao 2,5m, dài 2,6m. Tường rào: Móng cột gạch 200 x 200mm, tường gạch dày 100m, cao 0,9m, trên lưới B40, cao 1,2m.
  • + Sân có diện tích 53,32 m². Kết cấu: Nền đất dầm chặt, lát gạch terrazzo.
  • + Cây xanh có trên đất bao gồm: 200 cây tre, 01 cây vú sữa, 01 cây cóc, 02 cây nhãn, 02 cây mít, 07 cây mai, 03 cây bằng lăng, 07 cây phát tài.
  • - Buộc ông Trần Vĩnh L phải thanh toán ½ giá trị quyền sử dụng đất, nhà và các công trình xây dựng trên đất cho bà Lê Thị Thúy P với số tiền là 3.369.885.000 đồng (ba tỷ ba trăm sáu mươi chín triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn đồng), căn cứ theo chứng thư thẩm định giá số 353 ngày 24/11/2023 của Công ty cổ phần T2.

Các nội dung liên quan đến quản lý Nhà nước về đất đai:

  • - Bà Lê Thị Phương T có trách nhiệm giao cho ông Trần Vĩnh L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CK 805650, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/2/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T để ông Trần Vĩnh L liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy theo quy định của Nhà nước.
  • - Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đăng ký, kê khai, để được cấp giấy chứng nhận theo quyết định của bản án này.
  • - Khi có yêu cầu của đương sự, cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận cũ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/2/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T); và cấp lại giấy chứng nhận mới cho ông Trần Vĩnh L theo quy định.
  • - Các bên đương sự có nghĩa vụ chấp hành các quyết định, quy định, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quản lý đất đai.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/02/2024, ông Trần Vĩnh L làm đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho ông 7 phần, chia cho bà T 03 phần giá trị tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: nhà và các tài sản có trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 xã P là tài sản chung của bà Lê Thị Phương T, ông Trần Vĩnh L được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Xét nguồn gốc tài sản này do cha mẹ của ông Trần Vĩnh L khai phá. Ông L, bà T được mẹ ông L tặng cho, bà T có công sức đóng góp tu sửa căn nhà có sẵn trên đất. Do đó, có căn cứ để chia cho ông L phần nhiều hơn so với bà T theo tỷ lệ 5,5/4,5 (ông L 5,5 phần, bà T 4,5 phần) để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông L. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết giao toàn bộ nhà, đất cho ông L, buộc ông L thanh toán ½ giá trị nhà, đất cho bà T là chưa thỏa đáng. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Vĩnh L, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 29/01/2024 của TAND huyện Long Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông L phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguồn gốc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 là của cha mẹ ruột ông Trần Vĩnh L khai phá. Đến năm 2009 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/4/2009 tại thửa đất số 203, tờ bản đồ số 12, xã P với diện tích 1.071m². Đến năm 2014, bà Trần Thị N1 (mẹ ruột ông L) có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Trần Vĩnh L và bà Lê Thị Phương T. Hợp đồng tặng cho được Văn phòng C công chứng ngày 15/7/2014. Đến 18/6/2018 được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất số CK 805650 đứng tên Trần Vĩnh L, Lê Thị Phương T với diện tích: 907,9m².

Đối với căn nhà và các tài sản có trên đất: nguyên đơn và bị đơn đều xác định: Khi bà Trần Thị N1 (mẹ ruột ông L) lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Trần Vĩnh L và bà Lê Thị Phương T, trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 xã P đã có sẵn căn nhà cấp 4, vợ chồng chỉ tu sửa thêm để ở từ đó cho đến nay.

Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định định diện tích đất 907,9m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88 xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai cũng như nhà ở và các tài sản có đất là tài sản chung của bà Lê Thị Phương T và ông Trần Vĩnh L được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là có cơ sở. Tuy nhiên, do nhà đất có nguồn gốc của mẹ ông L tặng cho 2 vợ chồng nên phải xác định ông L có công sức đóng góp nhiều hơn để chia cho ông L phần nhiều hơn theo quy định Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng như tinh thần Án lệ 03/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuy nhiên, đối với ý kiến của ông L cho rằng ông phải được chia 7 phần, bà T chỉ được chia 3 phần giá trị tài sản chung là không hợp lý, bởi lẽ: bà T và ông L đã kết hôn và chung sống với nhau trên nhà đất tranh chấp từ năm 1993, bà T cũng được bà N1 lập hợp đồng tặng cho nhà đất, ngoài ra trong quá trình chung sống thì ông L “là người nghiện rượu, thường hay nhậu nhẹt say xỉn, có những lời lẽ hăm dọa, gây hoang mang cho chị T...gia đình có khuyên anh L bỏ rượu nhưng anh không bỏ được...anh L thừa nhận chị T đã cho anh nhiều cơ hội nhưng đến nay anh vẫn không thay đổi” (bl số 7, 8). Do đó, bà T đã xin ly hôn và được Tòa án chấp nhận bằng bản án số 123 ngày 19/9/2017. Do ông L có lỗi trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nên Hội đồng xét xử có xem xét đến yếu tố lỗi này trong việc chia tài sản chung vợ chồng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà Lê Thị Phương T và anh Trần Vĩnh L1 (là con ruột bà T, ông L) cho rằng trong quá trình chung sống, bà T có đóng góp nhiều hơn do bà T có đưa tiền, vàng cho bà Trần Thị N1 để trả tiền mua đất thêm cũng như trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình, sửa nhà, mua sắm đồ đạc. Tuy nhiên, những nội dung này không được ông L thừa nhận, bà T và anh L1 cũng không có chứng cứ gì chứng minh những điều trình bày của mình là đúng sự thật nên Tòa án không có cơ sở xem xét.

Mặc dù tài sản có thể chia được bằng hiện vật, nhưng bà T có nguyện vọng được nhận giá trị tài sản và giao toàn bộ nhà đất cho ông L quản lý sử dụng; ông L cũng đồng ý nhận nhà đất và thanh toán tiền lại cho bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền sử dụng đất, nhà ở và các công trình xây dựng trên đất cho ông L là phù hợp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền mà các bên được chia. Cụ thể: chia cho bà Lê

Thị Phương T 45% giá trị tài sản, tương đương với số tiền 3.032.896.500đ, chia ông Trần Vĩnh L 55% giá trị tài sản, tương đương với số tiền 3.706.873.500đ.

[3] Về án phí:

  • - Án phí sơ thẩm: do sửa án sơ thẩm về giá trị các đương sự được chia nên cần phải xác định lại án phí sơ thẩm mà các đương sự phải chịu cho chính xác.
  • - Án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với quan điểm, nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Vĩnh L, sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành

Căn cứ các Điều 59, Điều 62 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 95, Điều 99 của Luật Đất đai năm 2013; Án lệ số: 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia tài sản chung sau khi ly hôn, cụ thể như sau:

  • - Giao cho ông Trần Vĩnh L được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 907,9m² (trong đó: ONT: 300m², CLN: 607,9m²); được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 6163 ngày 20/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2. Phần diện tích đất ông Trần Vĩnh L được quyền sử dụng được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650 ngày 18/02/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T.
  • - Giao cho ông Trần Vĩnh L được toàn quyền sở hữu nhà ở và công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 907,9m² được chia nêu trên gồm:
    • + Nhà ở gia đình diện tích 125,7 m². Kết cấu: Móng, cột gạch, xà gồ gỗ, mái tôn, trần nhựa + tôn lạnh, tường gạch sơn nước, nền gạch ceramic, cửa đi chính + cửa sổ khung sắt kính, cửa phòng nhôm kính + nhựa. Khu bếp: Thành gạch, kệ đan bê tông cốt thép, mặt ốp gạch ceramic. Khu vệ sinh: Tường ốp gạch ceramic, trên sơn nước, nền gạch ceramic nhám, cửa nhựa, xí bệt.
    • + Nhà tạm có diện tích 13m². Kết cấu: Cột sắt, xà gồ gỗ, mái fibro xi măng, nền gạch ceramic, hệ vách khung sắt, tôn (01 bên vách sử dụng chung tường nhà ở).
    • + Mái hiên có diện tích 9 m². Kết cấu: Cột, xà gồ sắt, mái tôn, nền xi măng.
    • + 01 Giếng đào. Kết cấu: Đào sâu 7,5m, đường kính Φ 0,8m, nắp đậy tấm đan bê tông xi măng.
    • + 01 Giếng khoan. Kết cấu: Khoan sâu 30m, đường kính Φ 140mm.
    • + Tháp nước + bồn nước. Kết cấu: Khung giằng thép V cao 6m, cầu thang sắt hộp, bồn nhựa dạng đứng, thể tích 700 lít.
    • + Tường rào, diện tích 76,2 m. Kết cấu: Móng, cột gạch, tường gạch dày 100mm, cao 2m, không tô trát.
    • + Cổng, hàng rào có diện tích 27,29 m. Kết cấu: Cổng: Trụ cổng 400 x 400mm bê tông cốt thép, cao 2,9m, cổng khung song sắt hộp, cao 2,5m, dài 2,6m. Tường rào: Móng cột gạch 200 x 200mm, tường gạch dày 100m, cao 0,9m, trên lưới B40, cao 1,2m.
    • + Sân có diện tích 53,32 m². Kết cấu: Nền đất dầm chặt, lát gạch terrazzo.
    • + Cây xanh có trên đất bao gồm: 200 cây tre, 01 cây vú sữa, 01 cây cóc, 02 cây nhãn, 02 cây mít, 07 cây mai, 03 cây bằng lăng, 07 cây phát tài.
  • - Buộc ông Trần Vĩnh L phải thanh toán cho bà Lê Thị Thúy P giá trị quyền sử dụng đất, nhà và các công trình xây dựng trên đất với số tiền là 3.032.896.500đ, căn cứ theo Chứng thư thẩm định giá số 353 ngày 24/11/2023 của Công ty cổ phần T2.
  • - Bà Lê Thị Phương T có trách nhiệm giao cho ông Trần Vĩnh L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CK 805650, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/2/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T để ông Trần Vĩnh L liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy theo quy định của Nhà nước.
  • - Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đăng ký, kê khai, để được cấp lại giấy chứng nhận theo quyết định của bản án này. Khi có yêu cầu của đương sự, cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận cũ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 805650, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/2/2018 cho ông Trần Vĩnh L, bà Lê Thị Phương T) và cấp lại giấy chứng nhận mới cho ông Trần Vĩnh L theo quy định.
  • 2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Vĩnh L phải thanh toán cho bà Lê Thị Phương T số tiền 28.471.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi mốt ngàn đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên (kể cả tiền chi phí tố tụng), hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  • 4. Về án phí:
    • 4.1 Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Phương T phải chịu 92.658.000đ (chín mươi hai triệu sáu trăm năm mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 46.000.000đ (bốn mươi sáu triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009996 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành; bà T còn phải nộp tiếp số tiền còn lại.
    • Bị đơn ông Trần Vĩnh L phải chịu 106.137.000đ (một trăm lẻ sáu triệu một trăm ba mươi bảy ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • 4.2 Án phí phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông L đã nộp tại biên lai số 0015298 ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào số tiền án phí sơ thẩm ông L phải nộp.
  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Thành
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành
  • - Đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lệ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Vĩnh Luân, sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger