TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Tuấn
Bà Lê Thị Giang
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Đại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, Sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
*Bị đơn: Anh Hà Văn N, Sinh năm 1993 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Thị H – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: chị và anh Hà Văn N tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nay là xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không thể hòa hợp được. Khoảng tháng 4 năm 2023 vợ chồng không thể sống chung được nữa nên đã ly thân, chị về nhà mẹ đẻ ở tại Thôn F, xã T huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Từ đó đến nay vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai nữa.
Nay xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
- Về con chung: Chị T và anh N có 2 con chung là cháu Hà Thị P, sinh ngày 28/01/2016 và cháu Hà Văn P1, sinh ngày 11/03/2013. Hiện tại cháu phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ và đang sinh sống cùng ông bà nội tại thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ly hôn chị đề nghị anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 2 cháu và chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng/2 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về tài sản và công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị T đề nghị được chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Hà Thị T còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản gốc đăng ký kết hôn; bản sao chứng thực giấy khai sinh của cháu Hà Thị P và Hà Văn P1, bản sao căn cước công dân của vợ chồng, đơn xin xác nhận nơi cư trú của bị đơn. Sau khi thụ lý vụ án, chị T nộp thêm đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và xét xử vắng mặt, bản tự khai.
* Bị đơn anh Hà Văn N tại bản tự khai ngày 21/5/2024 trình bày:
Về hôn nhân: Anh N và cô Hà Thị T tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nay là xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không thể hòa hợp được tháng 4 năm 2023 vợ chồng đã ly thân, chị T về nhà mẹ đẻ ở tại Thôn F, xã T huyện T, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa.
Nay xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh N đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: anh N và chị T có 2 con chung là cháu Hà Thị P, sinh ngày 28/01/2016 và cháu Hà Văn P1, sinh ngày 11/03/2013. Hiện tại cháu phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ và đang sinh sống cùng anh và ông bà nội tại thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ly hôn chị T tự nguyện để anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000đ/2 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về phần tài sản và công nợ: Không có ý kiến gì.
* Ý kiến của con chưa thành niên: Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Hà Văn P1 và Hà Thị P thì cả hai cháu xin được ở với bố là anh Hà Văn N hiện đang sống cùng bố và ông bà nội, cháu được bố và ông bà nội quan tâm, chăm sóc học tập rất tốt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Thị H có ý kiến và quan điểm như sau:
1. Về hôn nhân: Anh Hà Văn N và cô Hà Thị T tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và kết hôn vào ngày 27/11/ 2012 tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không thể hòa hợp được nữa nên đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2023. Chị T bỏ về nhà mẹ đẻ tại Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để ở cho đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai nữa.
Nay xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T có đơn ra Tòa án nhân dân huyện Như Thanh yêu cầu giải quyết việc ly hôn của vợ chồng thì anh N đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa hôm nay vì lý do công việc anh Hà Văn N và Hà Thị T đều xin xét xử vắng mặt. Trong các bản tự khai của anh chị nộp cho tòa án anh chị thống nhất việc anh chị kết hôn là tự nguyên, đến nay cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, không ai quan tâm đến ai, anh chị thống nhất ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh N và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được, theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghi nhận sự nguyên thuận tình ly hôn chị T với anh N.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau, giữa anh N và T có 02 con chung là các cháu: Hà Văn P1, sinh ngày 11/3/2013 và Hà Thị P, sinh ngày 28/01/2016. Hiện nay cháu phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ ở cùng với anh N và ông bà nội.
Ly hôn chị T có nguyện vọng giao con chung cho anh N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, Chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đồng trên tháng) cho đến khi đủ 18 tuổi.
Tại bản ghi lời khai của anh N, anh thể hiện nguyện vọng là đồng ý trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con và chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu 2.000.000đ/tháng/2cháu (Hai triệu đồng trên tháng trên hai cháu) cho đến khi đủ 18 tuổi.
Tại các đơn trình bày nguyện vọng của các cháu Hà Thị P và Hà Văn P1 đều thể hiện nguyện vọng là ở cùng với bố và ông bà nội.
Xét thấy nguyện vọng của anh N, chị T và các con là chính đáng, đúng pháp luật. Theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên giao hai cháu Hà Thị P và Hà Văn P1 cho anh Hà Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu 2.000.000đ/tháng/2 cháu (Hai triệu đồng trên tháng trên hai cháu) cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản và công nợ chung: Không xem xét.
4.Về án phí: Chị Hà Thị T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tòa án đã niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn anh Hà Văn N vẫn không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật TTDS; Khoản 1 Điều 56; Các Điều 81; 82; 83 luật HNGĐ, chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị T với anh Hà Văn N. Theo đó, ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị T và anh N; về con chung, giao cháu Hà Văn P1 và cháu Hà Thị P cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho
anh N mỗi tháng 2.000.000đ. Về án phí, chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn đã làm đúng theo mẫu quy định, nội dung khởi kiện xin ly hôn phù hợp với khoản 1 Điều 28 của BLTTDS; bị đơn có nơi cư trú tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Như Thanh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTT DS.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hà Thị T và bị đơn anh Hà Văn N, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật TTDS Tòa án huyện N tiến hành xét xử vắng mặt chị Hà Thị T và anh Hà Văn N.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn N và cô Hà Thị T tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và kết hôn vào ngày 27/11/ 2012 tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không thể hòa hợp được nữa nên đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2023. Cô T bỏ về nhà mẹ đẻ tại Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để ở. Từ đó đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai nữa.
Xét thấy, chị T và anh N đều có nguyện vọng được ly hôn. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị Hà Thị T và anh Hà Văn N là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Xét nguyện vọng của chị T và anh N về trách nhiệm nuôi con chung thấy rằng: Cả chị T và anh N đều thống nhất đề nghị Tòa án giao cháu Hà Thị P và cháu Hà Văn P1 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi các cháu trưởng thành. Xét thấy việc giao 2 cháu Hà Thị P và Hà Văn P1 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các cháu, của anh N, chị T và phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên, phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ nên chấp nhận.
[5] Về tài sản và công nợ: Chị Hà Thị T và anh Hà Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Hà Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị T với anh Hà Văn N, cụ thể:
Về hôn nhân: Ghi nhận chị Hà Thị T thuận tình ly hôn Hà Văn N.
Về con chung: Giao cháu Hà Thị P, sinh ngày 28/01/2016 và cháu Hà Văn P1, sinh ngày 11/3/2013 cho anh Hà Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; Chị Hà Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/2 cháu/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tổng số tiền là 600.000 đồng, nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh, theo biên lai số 0005542 ngày 20/5/2024, còn phải nộp 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quách Văn Thành |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thị T - Hà Văn N
