|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-06-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan– Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Tuyết M, sinh năm 1981
- Bị đơn: Anh Trần Xuân T, sinh năm 1972 (năm 1971 theo âm lịch)
HKTT: Tổ dân phố F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi ở hiện tại: 28B Avenida. Horta E Costa, FL.R/C L, ED.KA VA Macao, Trung Quốc. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
HKTT: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Triệu Thị Tuyết M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Xuân T kết hôn năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống hạnh phúc, sau đó đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên khác nhau về quan điểm sống, tính cách hai bên có nhiều khác biệt. Anh T thường xuyên sử dụng chất gây nghiện, có hành vi trộm cắp tài sản và đã từng bị xử lý hình sự. Chị đã nhiều lần khuyên chồng cai nghiện, tập trung làm ăn để nuôi dạy con cái, tuy nhiên, anh T không thay đổi. Vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi khiến cuộc sống hôn nhân hết sức ngột ngạt. Chị M đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, cố gắng hàn gắn nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân từ năm 2012 đến nay. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Xuân T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Triệu Bá D, sinh ngày 09/12/2000 và Trần Triệu Anh K, sinh ngày 08/5/2011. Cháu D hiện đã trưởng thành, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K. Hiện nay, do chị đang ở nước ngoài nên ủy quyền cho mẹ đẻ của chị là bà Lương Thị T1, sinh năm 1954 có địa chỉ: Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K cho đến khi chị về nước.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/04/2024 giữa Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với anh Trần Xuân T xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Triệu Thị Tuyết M kết hôn năm 2000 hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Năm 2012, chị M đi xuất khẩu lao động ở M, Trung Quốc. Thỉnh thoảng, chị M có về thăm gia đình. Vợ chồng đã không gặp nhau 5 năm, không liên lạc với nhau. Nay chị M xin ly hôn, anh không biết chị làm đơn khi nào, nếu chị M thích ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có con chung là Trần Triệu Bá D, sinh ngày 09/12/2000 đã trưởng thành và Trần Triệu Anh K, sinh ngày 08/5/2011. Hiện nay, cháu K đang ở với bà ngoại là Lương Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị M yêu cầu được nuôi con chung, anh nhất trí.
Về tài sản chung: Vợ chồng có nhà và đất tại Xóm H, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguồn gốc đất mua của mẹ vợ 40 triệu đồng nhưng không có giấy tờ (đất chưa có bìa đỏ), khoảng cuối năm 2010 vợ chồng có xây nhà cấp bốn trên thửa đất này. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, anh đề nghị chia đôi số tài sản chung cho mỗi người một nửa theo giá trị tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai ngày 27/5/2024 anh T xác định không đề nghị Tòa án chia tài sản chung và để lại toàn bộ tài sản cho các con.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Tuyết M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Xuân T. Về con chung: chị M và anh T có 02 con chung là Trần Triệu Bá D, sinh ngày 09/12/2000 và Trần Triệu Anh K, sinh ngày 08/5/2011. Cháu D đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu K cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ủy quyền cho mẹ đẻ của chị là bà Lương Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi chị về nước. Về cấp dưỡng nuôi con: chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh T. Về Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết. Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Triệu Thị Tuyết M là nguyên đơn có nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện tại đang ở 28B Avenida. Horta E Costa, FL.R/C L, ED.KA VA Macao, Trung Quốc. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của chị M đều có chứng thực của tổng lãnh sự quán nước C, tại Hồ N và Ma Cao. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của chị Triệu Thị Tuyết M nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị M. Anh Trần Xuân T là bị đơn hiện đang cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình giải quyết anh T đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Chị M, anh T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2].Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Triệu Thị Tuyết M và Trần Xuân T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, theo chị M trình bày: Do hai bên khác nhau về quan điểm sống, tính cách hai bên có nhiều khác biệt. Anh T thường xuyên sử dụng chất gây nghiện, có hành vi trộm cắp tài sản và đã từng bị xử lý hình sự, vợ chồng không có tiếng nói chung và đã sống ly thân nhau từ năm 2012 đến nay. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn với anh T. Anh T đồng ý ly hôn chị M.
Thấy rằng, anh T và chị M đã sống ly thân nhau nhiều năm, mâu thuẫn giữa chị M và anh T đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Tuyết M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Xuân T là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[2.2]. Về con chung: Chị Triệu Thị Tuyết M và anh Trần Xuân T có 02 con chung là Trần Triệu Bá D, sinh ngày 09/12/2000 và Trần Triệu Anh K, sinh ngày 08/5/2011. Cháu D đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị M yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Chị M ủy quyền cho mẹ đẻ của chị là bà Lương Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K cho đến khi chị về nước. Anh T nhất trí giao cháu K cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng . Xét thấy, con chung của chị M và anh T hiện đang sinh sống cùng bà ngoại là bà Lương Thị T1, đang học tập tại tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ và bà ngoại, bà Lương Thị T1 có xác nhận thay chị M chăm sóc cháu K đến khi chị M trở về nước. Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ và sự ổn định cho con khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của chị Triệu Thị Tuyết M là phù hợp với thực tế và phù hợp với nguyện vọng
của cháu Trần Triệu Anh K, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T (do chị M không yêu cầu).
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Các bên đương sự cũng có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.
[2.4]. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ, cần chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 39; Điều 147; Điều 207; Điều 273; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị Tuyết M đối với anh Trần Xuân T.
- Về hôn nhân: Cho chị Triệu Thị Tuyết M được ly hôn anh Trần Xuân T.
- Về con chung: Giao con chung là Trần Triệu Anh K, sinh ngày 08/5/2011 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung của anh chị đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Người được uỷ quyền là bà Lương Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K cho đến khi chị M về nước. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Chị Triệu Thị Tuyết M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000100 ngày 08/3/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T (do chị M không yêu cầu) hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Triệu Thị Tuyết M được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Trần Xuân T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRIỆU THỊ MAI T VÀ TRẦN XUÂN T
