Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP


Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 17/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Minh.
  2. Ông Ngô Văn Khon.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn, Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Tào Anh T (Tuấn L), sinh ngày 15 tháng 01 năm 1980, tại Đồng Tháp; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tào Văn L1, sinh năm: 1954 (chết) và bà Võ Thị N, sinh năm: 1962; có vợ Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1991 và Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2015 con, Nguyễn Văn P, sinh năm: 2020 con; tiền án: Ngày 29/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xử phạt 02 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại Bản án số 94/ST, chấp hành xong ngày 27/5/2019 và Ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xử phạt 01 năm tù giam về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, tại Bản án số 32/ST, chấp hành xong ngày 28/01/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/7/2008, Ủy ban nhân dân huyện T đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng và ngày 28/02/2012, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Tào Anh T 03 năm tù giam về tội cướp giật tài sản, tại Bản án số 66/ST; tạm giữ: Ngày 09/6/2023; tạm giam: Ngày 14/6/2023, bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên toà.

2. Đỗ Hữu L3, sinh ngày 03 tháng 9 năm 2001, tại Đồng Tháp; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1975 và bà Lâm Thị Bích P1, sinh năm: 1973; có vợ con chưa có; tiền án: Ngày 15/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 02 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số 29/2021/HS-ST, chấp hành xong ngày 18/10/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Ngày 24/11/2023, bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1975 (vắng mặt có đơn xin vắng);
    Nơi cư trú: Ấp Thị, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Chị Trần Thị Kim N1 (tự D), sinh năm: 1994 (vắng mặt có đơn xin vắng);
    Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;
  3. Chị Bùi Thúy H1, sinh năm: 1990 (vắng mặt có đơn xin vắng);
    Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1962 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 08/6/2023, Đỗ Hữu L3 điều khiển xe mô tô biển số 66P2-060.94 đến nhà của bị cáo Tào Anh T, tại ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để chơi, khoảng 5 phút sau, Trần Thị Kim N1 cũng đến nhà bị cáo T chơi. Tại nhà, bị cáo T rủ L3 sử dụng ma túy và được L3 đồng ý, bị cáo T hỏi mượn bị cáo L3 200.000đ để mua ma túy về cùng sử dụng, bị cáo L3 đồng ý và đưa T 200.000đ. Bị cáo T mượn xe mô tô nêu trên của L3 để đi mua ma túy, khi bị cáo T dẫn xe đến nhà mẹ ruột là bà Võ Thị N, T hỏi xin bà N 100.000đ để mua đồ ăn, bà N đồng ý đưa cho T 100.000đ. Khi đến đầu đường, bị cáo T gặp K ngụ xã P, huyện T đang dẫn xe Dream, không rõ biển số, bị hết xăng nên T đẩy xe của K đến cầu B để K đổ xăng chạy xe về nhà. T tiếp tục điều khiển xe đến nhà của Bùi Thúy H1 ở cụm dân cư ấp B, xã A, bị cáo T đứng trước cửa gặp H1 ở trong nhà, hỏi mua 02 bịch ma túy với giá 300.000đ, H1 đồng ý và trực tiếp đưa cho T 02 bịch ma túy, T đưa cho Hằng số tiền 300.000đ rồi chạy về nhà. T lấy 01 bịch ma túy và bộ D1 sử dụng ma túy đưa cho bị cáo L3 cắt, đổ ma túy vào bình để sử dụng, T đi ra gian nhà trước cất giấu 01 bịch ma túy còn lại trên trang thờ rồi quay lại gian nhà sau, bị cáo T đang sử dụng ma túy cùng với bị cáo L3 và Trần Thị Kim N1 thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên nền gạch tại ngăn nhà sau của T có 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng có khoét 02 lổ tròn, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh nối với 01 ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh màu trắng bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; Tại cạnh bên trái của trang thờ trên vách ngăn giữa nhà theo hướng từ ngoài nhìn vào có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn nghi là chất ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 và một số tang vật khác có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 630/KL-KTHS ngày 11/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 nỏ thủy tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 nêu trên gửi đi giám định là chất ma túy, có khối lượng là 0,074 gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,132 gam loại Methamphetamine.

- Vật chứng thu giữ gồm: 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A1, ghi niêm phong số 645/A1, ngày 09/6/2023 (bên trong có chứa 0,041 gam chất ma túy mâu vật hoàn lại sau giám định và nỏ thủy tinh); 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A2, ghi niêm phong số 645/A2, ngày 09/6/2023 (bên trong có chứa 0,100 gam chất ma túy mẫu vật hoàn lại sau giám định) cùng có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Tào Anh T và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ; 01 Chai nhựa màu trắng nắp màu trắng có 02 lổ tròn, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu xanh nối với đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu xanh sọc trắng, nhọn một đầu 02 ống hút nhựa màu trắng. 01 Xe mô tô biển số 66P2-060.94, nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, số máy KC26E1250094, số khung RLHKC2605JY204542, màu đen vàng đồng, đã qua sử dụng.

Đối với xe mô tô biển số 66P2-060.94, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có căn cứ xác định ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1975 là chủ sở hữu, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông H.

Đối với Bùi Thúy H1 không thừa nhận bán ma túy cho T, cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác thể hiện H1 đã bán ma túy cho bị cáo T. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa đủ căn cứ chứng minh H1 bán ma túy cho bị cáo T.

Đối với Trần Thị Kim N1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngoài ra không có chứng cứ chứng minh N1 giúp sức cho bị cáo T phạm tội tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T tách hồ sơ xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSTB ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Tào Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ Luật hình sự; Truy tố bị cáo Đỗ Hữu L3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm b, h khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Tào Anh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mức án từ 07 năm đến 08 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mức án từ 09 năm đến 10 năm tù tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt của 02 tội là 16 năm đến 18 năm tù. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 255, Điều 38, khoản 1 Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu L3 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mức án từ 07 năm đến 08 năm tù. Hình phạt bổ sung không. Về vật chứng giữ nguyên theo Cáo trạng. Về trách nhiệm dân sự không.

Tại phiên tòa bị cáo Tào Anh T trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo T không thừa nhận tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do bị cáo T mua ma túy về để tổ chức sử dụng, chất ma túy còn dư chưa đủ định lượng để khởi tố tội tàng trữ trái phép chất mà túy, bị cáo T đề nghị khởi tố chị Trần Thị Kim N1 về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy do chị N1 là người khởi xướng kêu bị cáo L3 đưa tiền cho bị cáo T đi ma m túy về cùng sử dụng và chị N1 cam kết sẽ trả tiền cho L3 nếu bị cáo T không trả. Trong quá trình điều tra bị cáo bị Điều tra viên đánh đập nhưng không có làm đơn khiếu nại tố cáo do bị cáo T không biết khiếu nại với ai.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Hữu L3 trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo L3 là người trực tiếp đưa số tiền 200.000đ cho bị cáo T, do chị N1 kêu bị cáo L3 đưa, do L3 không quen thân với chị N1 nên L3 chỉ đưa tiền cho T để mua ma túy và đưa cho bị cáo T mượn xe để đi mua ma túy về cùng sử dụng tại nhà của bị cáo T chung với N1.

Tại phiên tòa người làm chứng bà Võ Thị N là mẹ ruột của bị cáo T trình bày: Bà có biết việc bị cáo T sử dụng mà túy, ngày 8/6/2023 bị cáo T có đến căn nhà sau đã bỏ trống chơi, bị cáo T có hỏi bà xin 100.000đ để mua đồ ăn, tiếp sau đó thấy Công an đến bắt bị cáo T. Bà xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T do còn 02 con nhỏ và bà đã lớn tuổi, không ai chăm sóc.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và Kết quả giám định khối lượng chất ma túy.

Bị cáo Tào Anh T nói lời sau cùng, bị cáo biết ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình do hiện nay mẹ già và các con còn nhỏ.

Bị cáo Đỗ Hữu L3 nói lời sau cùng, bị cáo biết ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo T cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị đánh đập nhưng không có làm đơn khiếu nại, tố cáo. Do đó, bị cáo T có quyền làm đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra để giải quyết theo quy định.

[2] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, chị N1, chị H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H, chị N1, chị H1 là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/6/2023 Công an huyện T; Kết luận giám định số: 630/KL-KTHS ngày 11/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ; Bản tự khai ngày 09/6/2023 của bị cáo L3; Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can, Biên bản đối chất, Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy do bị cáo Tào Anh T và bị cáo Đỗ Hữu L3 thực hiện và các bị cáo điều nghiện ma túy. Để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân, ngày 08/6/2023, tại nhà của bị cáo Tào Anh T thuộc địa phận ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo T dùng 100.000đ tiền cá nhân xin được từ bà N và mượn của bị cáo Đỗ Hữu L3 200.000₫ và xe mô tô biển số 66P2-060.94 để đi mua ma túy mang về đưa cho bị cáo L3 cắt, đổ ma túy vào bình do bị cáo T chuẩn bị sẵn để các bị cáo T, L3Trần Thị Kim N1 cùng sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và bị cáo T còn tàng trữ trái phép 0,132 gam ma túy lại Methamphetamine để sử dụng cá nhân. Bị cáo T và bị cáo L3 thực hiện hành vi phạm tội là đồng phạm, không thuộc dạng có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản

đơn, khi thống nhất ý chí cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội chứ không có sự sắp xếp, phân công cụ thể, rõ ràng vai trò trước khi phạm tội.

Vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo T là người chủ mưu, thực hiện với vai trò chính là rủ rê bị cáo L3, N1 mua ma túy về sử dụng, bị cáo T là người trực tiếp nhận số tiền mượn của bị cáo L3 là 200.000đ và số tiền 100.000đ xin được từ bà N để đi mua ma túy. Khi mua ma túy về bị cáo T cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy để bị cáo L3 cắt, đổ ma túy vào bình cùng với bị cáo T, N1 sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo T có 02 tiền án chưa được xóa án tích, nên phạm tội lần này với tình tiết định khung là Tái phạm nguy hiểm. Bị cáo L3 là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo T trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo L3 đã cho bị cáo T mượn 200.000đ và xe mô tô để đi mua ma túy, trực tiếp lấy ma túy từ bị cáo T cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cùng với bị cáo TN1 sử dụng chung.

Hành vi của bị cáo Tào Anh TĐỗ Hữu L3 đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý nhà nước về các chất ma túy và là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo T tàng trữ 0,132gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và tổ chức cho bị cáo L3, N1 cùng với T sử dụng ma túy, đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm b, h khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định là phạt tù từ 05- 10 năm đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và phạt tù từ 07-15 năm đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo L3 đã giúp sức cho bị cáo T tổ chức cho L3, N1 sử dụng ma túy cùng với bị cáo T, với hành vi cho bị cáo T mượn tiền, mượn xe, cắt đổ ma túy vào bình, đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, điểm b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định là phạt tù từ 07-15 năm tù đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo T.

Bị cáo T và bị cáo L3 là người đã thành niên và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra, các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo TL3 biết rõ ma túy gây nguy hại đối với bản thân, thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật, do bản chất thích hưởng thụ nên bị cáo va vào tệ nạn ma túy. Để thỏa cơn nghiện ma túy nên bị cáo TL3 cùng nhau thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị cáo T tàng trữ tráu phép chất ma túy như đã nêu trên. Hiện nay tình hình các thanh thiếu niên sử dụng ma túy ngày càng tăng, từ đó các tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng nhiều, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách, pháp luật cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Việc nghiện ma túy là nguyên nhân phát sinh tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như giết người, quậy phá, trộm cắp... làm tăng tệ nạn xã hội, tốn nhiều chi phí để phòng chống, chữa trị, cai nghiện. Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ,

suy thoái nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, chính sách pháp luật của nhà nước. Cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật, áp dụng một mức hình phạt tù phù hợp với hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cũng nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và tác dụng phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của các bị cáo mà tăng nặng, giảm nhẹ cho phù hợp.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo T không có, bị cáo L3 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm do có 01 tiền án chưa được xóa án tích, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo L3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo T và bị cáo L3.

[6] Đối với hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có, không xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng:

- Đối với 01 Xe mô tô biển số 66P2-060.94, nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, số máy KC26E1250094, số khung RLHKC2605JY204542, màu đen vàng đồng, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của ông Đỗ Văn H (cha ruột của bị cáo L3), sinh năm: 1975 mua để sử dụng và không biết bị cáo L3 lấy xe cho bị cáo T mượn đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông H xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A1, ghi niêm phong số 645/A1, ngày 09/6/2023 (bên trong có chứa 0,041 gam chất ma túy mẫu vật hoàn lại sau giám định và nỏ thủy tinh); 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A2, ghi niêm phong số 645/A2, ngày 09/6/2023 (bên trong có chứa 0,100 gam chất ma túy mẫu vật hoàn lại sau giám định) cùng có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Tào Anh T và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ; 01 Chai nhựa màu trắng nắp màu trắng có 02 lổ tròn, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu xanh nối với đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu xanh sọc trắng, nhọn một đầu 02 ống hút nhựa màu trắng.

trắng. Xét thấy các vật chứng nên trên là chất ma túy là vật cấm tàng trữ mua bán và các vật chứng còn lại không có giá trị do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Đối với người sử dụng ma túy chung với bị cáo T và bị cáo L3 là chị Trần Thị Kim N1 (D), quá trình xét xử Tòa án huyện có Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với chị Kim N1 về việc có đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo T và bị cáo L3 không. Căn cứ Công văn số 01/CV-VKS-TB ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về việc đề nghị Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, do không có căn cứ xử lý hình sự đối với Trần Thị Kim N1 với vai trò đồng phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát huyện xác định không căn cứ xử lý hình sự đối với chị N1, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với Trần Thị Kim N1.

[10] Đối với chị Bùi Thúy H1, bị cáo T khai mua ma túy từ chị H1, nhưng không có chứng cứ nào khác chúng minh chị H1 bán ma túy cho bị cáo T, Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo quy định pháp luật.

[11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Tào Anh TĐỗ Hữu L3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên bố bị cáo Tào Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tào Anh T 07 (B) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 09 (C) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/6/2023.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, khoản 1 Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu L3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu L3 07 (B) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam là ngày 24/11/2023.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì được niêm phong ký hiệu A1, ghi niêm phong số 645/A1, ngày 09/6/2023, (bên trong có chứa 0,041 gam chất ma túy mẫu vật hoàn lại sau giám định và nỏ thủy tinh); 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A2, ghi niêm phong số 645/A2, ngày 09/6/2023 (bên trong có chứa 0,100 gam chất ma túy mẫu vật hoàn lại sau giám định) cùng có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K1, Nguyễn Tấn T2, Tào Anh T và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Đ; 01 Chai nhựa màu trắng nắp màu trắng có 02 lổ tròn, 01 lổ gắn đoạn ống hút nhựa màu xanh nối với đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng; 01 hột quẹt ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu xanh sọc trắng, nhọn một đầu 02 ống hút nhựa màu trắng.

Các vật chứng này đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình quản lý, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Tào Anh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đỗ Hữu L3 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/6/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - CA huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cổng thông tin Điện tử Tòa án;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Bích Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger