Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-6-2024

V/v "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T năm 1998 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Vương Danh S năm 1998 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Thị T1 trình bày như sau:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh VDanh S1 ngày 02 tháng 11 năm 2018 trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn nên tháng 4/2024 chị đã thuê nhà dọn ra ở riêng, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Vương Danh S2 ly hôn.

-Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019 và Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Hiện các con khỏe mạnh phát triển bình thường. Con Vương Hoàng L1 ở cùng chị, còn con Vương Hoàng L2 C hiện đang ở cùng anh S. Nay vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho anh VDanh S1 được nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Vương Hoàng Linh C1, sinh ngày 22/5/2019 và giao cho chị được nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Vương Hoàng L3 sinh ngày 29/08/2021. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thỏa thuận, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị T2 bày hiện nay chị đang làm việc tại Công ty Đ ở xã D, T làm việc giờ hành chính mức thu nhập hàng tháng khoảng 17.000.000 đồng chị có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Thị T1 không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Hoàng Thị T1 có đơn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Vương Danh S4 trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Hoàng Thị T3 02/11/2018 trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại UBND xã T Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, vợ chồng đều tự giải quyết được với nhau.

Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, với mức độ trầm trọng hơn trước. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế. Tháng 4/2024 chị T4 thuê nhà dọn ra ở riêng, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh ly hôn, xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị T5 quyết xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

-Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019 và Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Hiện các con khỏe mạnh phát triển bình thường. Con Vương Hoàng L3 đang ở cùng chị T6 con Vương Hoàng L2 C hiện đang ở cùng anh. Trường hợp nếu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cho anh được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019. Giao cho chị Hoàng Thị T7 dưỡng chăm sóc con chung là Vương Hoàng L3 sinh ngày 29/08/2021. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh S5 bày hiện nay anh đang làm việc tại Công ty B trụ sở tại xã T, huyện L làm việc giờ hành chính, mức thu nhập hàng tháng khoảng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng anh có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Vương D S không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa anh Vương D S có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, tại phiên tòa chị Hoàng Thị T1 và anh Vương Danh S6 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T1 ly hôn anh Vương Danh S4.

- Về con chung: Giao chị Hoàng Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Giao anh VDanh S7 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị T8 anh Vương D S được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, tại phiên tòa chị Hoàng Thị T1 và anh Vương Danh S6 có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 238 của BLTTDS Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T1 và anh Vương D S đăng ký kết hôn ngày 02/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T10, huyện L, tỉnh Bắc Giangtrên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp.

Quá trình chung sống chị T8 anh S6 xác định trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Do mâu thuẫn chị T4 dọn đi nơi khác sinh sống từ tháng 4/2024, anh chị đã sống ly thân từ đó. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S Phía anh S không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh S trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi anh S cư trú thấy hiện chị T8 anh S đang sống ly thân từ tháng 4 năm 2024, anh chị không có khả năng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T, anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Hoàng Thị T1 được ly hôn anh Vương Danh S4.

[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị T1 và anh Vương D S có hai con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019 và Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Nay vợ chồng ly hôn chị T9 nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Anh Vương Danh S8 nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019. Chị T và anh S hiện nay đều có nghề nghiệp, mức thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con. HĐXX xét thấy, con Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019 đang ở cùng anh S, con Vương Hoàng Lsinh ngày 29/08/2021 đang ở cùng chị T từ khi chị T8 anh S7 sly thân tháng 4/2024 đến nay. Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em và ổn định tâm lý của trẻ tránh cuộc sống bị sáo trộn, xét thấy cần thiết tiếp tục giao con Vương Hoàng L ngày 29/08/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019 cho anh S9 tiếp nuôi dưỡng để anh chị có thể chăm sóc, giáo dục con đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị T1, anh Vương D S không đề nghị, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị T1, anh Vương D S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Thị T1, anh Vương D S không đề nghị, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hoàng Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007543 ngày 07/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T1 ly hôn anh Vương Danh S4.
  2. Về con chung: Giao chị Hoàng Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng L ngày 29/08/2021. Giao anh VDanh S7 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vương Hoàng Linh C ngày 22/05/2019. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị T8 anh Vương D S được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007543 ngày 07/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Dĩnh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Th, anh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger