Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm.

Bà Nguyễn Kim Lý.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn L

Sinh năm: 2002 tại tỉnh An Giang; đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở: P, nhà trọ Nguyễn Văn Đ, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, sinh năm: 1970 và bà Đàng Thị H sinh năm: 1970; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 09/9/2024 cho đến nay - có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị G, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn T1, sinh năm: 2001; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 09/9/2024, Phạm Văn L điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 67G1-811.01 đến khu vực phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để rửa xe. Sau khi xong việc, L điều khiển xe chạy trên đường ĐT741 theo hướng về phòng trọ của L ở nhà trọ Nguyễn Văn Đ thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi ngang tiệm V, địa chỉ: đường Đ, khu phố P, phường H thì L nhìn thấy bà Phạm Thị G đang đứng ở quầy mua vàng nên dừng xe mô tô cách chỗ bà G đứng khoảng 15 mét. L quan sát thấy bà G lấy tiền từ trong túi nylon màu đen để mua vàng nên L nảy sinh ý định cướp giật tài sản của bà G.

L đứng đợi bà G khoảng 10 phút thì bà G điều khiển xe đạp điện chạy ra khỏi tiệm vàng. Lúc này, L điều khiển xe mô tô chạy theo sau xe đạp điện của bà G đến ngã ba đường Đ và đường H thì bà G dừng xe lại để mua trái cây nên L tiếp tục dừng xe lại quan sát. L nhìn thấy bà G lấy tiền từ túi nylon màu đen để mua trái cây, rồi treo túi nylon trên tay cầm bên trái của xe đạp điện và điều khiển xe rẽ vào đường H. Lúc này, L nhanh chóng điều khiển xe mô tô rẽ vào đường H chạy theo xe đạp điện khoảng 100 mét thì chạy vượt lên quay đầu xe mô tô chạy theo hướng ngược lại ra đường ĐT741 và nhanh chóng dùng tay trái giật túi nylon màu đen trên tay cầm bên trái của xe đạp điện, rồi tẩu thoát. L bỏ chạy đến khu vực C gần ngã ba L thì dừng xe, kiểm tra bên trong túi nylon màu đen gồm có: 02 chiếc nhẫn mỗi chiếc có khối lượng 05 chỉ loại vàng 9999; 01 chiếc nhẫn có khối lượng 01 chỉ loại vàng 9999; 01 chiếc nhẫn có khối lượng 05 phân loại vàng 9999 và số tiền 1.300.000 đồng. Sau đó, L sử dụng 420.000 đồng để tiêu xài cá nhân, còn lại 880.000 đồng và 04 nhẫn vàng L cất giữ trong người rồi bỏ trốn.

Ngay sau khi bị cướp giật tài sản, bà G đến Công an phường H trình báo. Lực lượng Công an tiến hành xác định hiện trường và trích xuất hình ảnh camera thì phát hiện đối tượng nam điều khiển xe mô tô biển số 67G1-811.01 là người cướp giật tài sản của bà G. Qua xác minh, Phạm Văn L đứng tên đăng ký xe mô tô và thuê trọ tại nhà trọ Nguyễn Văn Đ. Đến nhà trọ xác minh thì gặp ông Phạm Văn T1 là anh trai của L. Khi biết L thực hiện hành vi phạm tội, ông T1 gọi điện thoại vận động L đầu thú. Khoảng 14 giờ cùng ngày 09/9/2024, L đến Công an phường H đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 chiếc nhẫn, mỗi chiếc có khối lượng 05 chỉ loại vàng 9999; 01 chiếc nhẫn có khối lượng 01 chỉ loại vàng 9999; 01 chiếc nhẫn có khối lượng 05 phân loại vàng 9999 (được niêm phong);
  • - Số tiền 880.000 đồng;
  • - Xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 67G1-811.01;
  • - Bộ quần áo Phạm Văn L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội: 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác dài tay loại sọc caro màu xám – bạc, 01 quần jean màu xám trắng, 01 đôi dép màu hồng.
  • - 01 USB biên trong chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh Phạm Văn L thực hiện hành vi phạm tội.

Theo Kết luận định giá tài sản số 101 ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 04 chiếc nhẫn có tổng khối lượng là 11 chỉ 05 phân, loại vàng 9999, tổng giá trị là 89.125.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 26/9/2024, ông Phạm Văn T1 tự nguyện bồi thường cho bà Phạm Thị G số tiền 420.000 đồng. Cùng ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý giao trả 04 chiếc nhẫn vàng 9999 và số tiền 1.300.000 đồng cho bà G. Bà G không yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho L.

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại các điểm c, d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội:

  • - Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 đối với bị cáo Phạm Văn L về tội: “Cướp giật tài sản”;
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d, g khoản 2 Điều 171, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 05 – 06 năm tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
  • + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 67G1-811.01;
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác dài tay loại sọc caro màu xám – bạc, 01 quần jean màu xám trắng, 01 đôi dép màu hồng.

Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Văn L: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, tại khu vực ngã ba đường ĐT741 và đường H thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn L có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát vào xe đạp điện do bà Phạm Thị G (trên 70 tuổi) đang điều khiển, rồi L nhanh chóng cướp giật 01 túi nylon treo trên tay cầm bên trái của xe đạp điện, bên trong túi có 04 chiếc nhẫn khối lượng 11 chỉ 05 phân, loại vàng 9999, giá trị 04 chiếc nhẫn khối lượng 11 chỉ 05 phân, loại vàng 9999 là 89.125.000 đồng và số tiền 1.300.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại G là 90.425.000 đồng (chín mươi triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm (điều khiển xe mô tô áp sát vào xe đạp điện) giật lấy túi nylon treo trên tay cầm bên trái của xe đạp điện của bà G (trên 70 tuổi) đang điều khiển chiếm đoạt tài sản trị giá 90.425.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát do bị cáo Phạm Văn L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại các điểm c, d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn L với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.

Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ thiếu ý thức, liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt

nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 26/9/2024, ông Phạm Văn T1 tự nguyện bồi thường cho bà Phạm Thị G số tiền 420.000 đồng. Cùng ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý giao trả 04 chiếc nhẫn vàng 9999 và số tiền 1.300.000 đồng cho bà G. Bà G không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Ông Phạm Văn T1 bồi thường thay cho bị cáo L và không yêu cầu bị cáo phải chịu trách nhiệm trả lại số tiền này nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 67G1-811.01 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác dài tay loại sọc caro màu xám – bạc, 01 quần jean màu xám trắng, 01 đôi dép màu hồng do bị cáo L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm c, d, g khoản 2 Điều 171; Điều 47; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 05 (năm) năm tù, thời chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 09/9/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển số 67G1-811.01; số máy: E32VE528767, số khung: RLCUE3720NY097469 (xe không gương bên phải, không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo khoác dài tay loại sọc caro màu xám (dạng áo sơ mi), 01 quần jean màu xám trắng, 01 đôi dép màu hồng.
    • (Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2025).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS TP Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phạm L phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger