Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-8-2024.

(Về việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến

Bà Nguyễn Thị Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: Ông Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1995 (Có mặt);
  • Đăng ký thường trú tại: Tổ B, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
  • Chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1996 (vắng mặt không có ký do);
  • T2 tại: Tổ B, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/3/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vào ngày 12/12/2016 trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn năm 2017. Nguyên nhân do anh Nguyễn Minh T1 ngoại tình, hay tụ tập uống rượu, không tu chí làm ăn, không đưa tiền cho chị nuôi con. Mặc dù chị T đã khuyên nhủ nhưng anh T1 không thay đổi. Chị đã kiên trì nhiều năm nhưng vợ chồng luôn mâu thuẫn bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Chị T mang hai con về nhà mẹ đẻ ở huyện K được một năm thì con thứ nhất muốn về ở thành phố với bố và ông bà nội, nên chị để anh T1 đón con thứ nhất về thành phố H ở cùng bố. Còn con nhỏ vẫn ở cùng chị tại nhà ngoại ở K hai năm nay với chị nhưng anh T1 không quan tâm thăm hỏi gì đến vợ con. Mặt khác sau kết hôn sống chung với mẹ chồng chị và mẹ chồng có mâu thuẫn, mẹ chồng đối xử với chị khắc nghiệt, chồng lại không có chính kiến, chị bị phân biệt đối xử trong gia đình chồng. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không đạt được mục đích trong hôn nhân, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, không tồn tại đời sống chung, nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 có 02 (hai) con chung là Nguyễn Bùi Thu P, sinh ngày 21/10/2015 và Nguyễn Bùi Bảo A, sinh ngày 19/4/2020. Chị T có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Tuy nhiên cháu Nguyễn Bùi Thu P đã trên 7 tuổi nên chị đề nghị Tòa án xem xét tôn trọng nguyện vọng của con được ở với bố. Thực tế hai năm nay ly thân cháu Nguyễn Bùi Thu P ở với bố cháu và bà nội, còn cháu Nguyễn Bùi Bảo A do còn nhỏ nên ở với chị T và ông bà ngoại. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Bùi Bảo A và chưa yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật. Chị T hiện làm lao động tự do kinh doanh ở K gần nhà bố mẹ đẻ thu nhập khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/ tháng, ngoài ra ở nhà còn chăn nuôi tự tăng gia sản xuất hoàn toàn đảm bảo để nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng chị không vay nợ chung của tổ chức, cá nhân nào do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bị đơn anh Nguyễn Minh T1:

Anh Nguyễn Minh T1 đã được Tòa án triệu tập, giao văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để anh T1 biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Nguyễn Minh T1 cư trú. Kết quả xác minh cho thấy: Anh Nguyễn Minh T1 có đăng ký thường trú và chỗ ở hiện tại tại tổ B, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Nguyên nhân cụ thể mâu thuẫn giữa hai vợ chồng tổ dân phố không nắm rõ nhưng chị T và anh T1 ly thân 02 năm nay, chỉ nghe nói là do mẹ chồng khó tính.

Tòa án đã tiến hành xác minh người thân của anh Nguyễn Minh T1 là bà Dương Kim D mẹ đẻ của anh T1. Bà D cho biết vợ chồng anh T1 chị T sau khi kết hôn chung sống cùng bố mẹ chồng. Mâu thuẫn cụ thể bà không được biết. Chỉ thấy chị T bỏ nhà đi từ 02 năm nay mang theo con nhỏ là Nguyễn Bùi Bảo A. Vợ chồng anh T1, chị T ly thân từ hai năm nay. Bà và con dâu không có mâu thuẫn, hiềm khích gì. Anh T1 đi làm công nhân ở đâu bà không biết. Việc Tòa án thụ lý ly hôn anh T1 biết nhưng sẽ không đến Tòa án làm việc vì anh T1 bảo bà là anh T1 không muốn ly hôn và cũng sẽ không ký giấy tờ gì của Tòa án.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Bùi Thu P cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

  • - Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình:
  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T; xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Minh T1.
  • Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bùi Thu P, sinh ngày 21/10/2015 cho anh Nguyễn Minh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con là Nguyễn Bùi Bảo A cho chị Bùi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con 18 tuổi hoặc có quyết định khác theo quy định của pháp luật và anh T1 chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
  • Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T khai không có, không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
  • Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo mà không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ, đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã xác minh tại nơi cư trú của anh Nguyễn Minh T1, tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vào ngày 12/12/2016 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 và chị T thường xuyên bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế, mâu thuẫn trong quan hệ gia đình, vợ chồng không duy trì cuộc sống chung từ năm 02 nay. Việc ly thân kéo dài nhiều năm cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay được khoảng 02 năm, mỗi người một nơi cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử tòa án đã nhiều lần đến nhà giao văn bản cho anh Nguyễn Minh T1 về việc chị T đề nghị ly hôn, liên lạc yêu cầu anh T1 đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng anh T1 từ chối nhận với lý do không đồng ý ly hôn, không hợp tác, do vậy chị T phải đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh T1 biết việc chị T nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh T1 cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T1 của chị Bùi Thị T là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 có 02 (hai) con chung là Nguyễn Bùi Thu P, sinh ngày 21/10/2015 và Nguyễn Bùi Bảo A, sinh ngày 19/4/2020. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Bùi Bảo A và chưa yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật. Chị T đề nghị giao con là Nguyễn Bùi Thu P cho anh Nguyễn Minh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc thay đổi theo quy định của pháp luật. Chưa yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy cháu Nguyễn Bùi Thu P, sinh ngày 21/10/2015 đã ở với bố khi chị T và anh T1 ly thân được 01 năm cho đến nay. Cháu P có nguyện vọng được ở với bố. Anh T1 làm việc ở công ty có công việc, thu nhập ổn định. Nên giao con Nguyễn Bùi Thu P cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, trông nom là đảm bảo. Cháu Nguyễn Bùi Bảo A, sinh ngày 19/4/2020 còn nhỏ và hiện đang ở với mẹ. Chị T làm lao động tự do kinh doanh ở K gần nhà bố mẹ đẻ thu nhập khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/ tháng, ngoài ra ở nhà còn chăn nuôi tự tăng gia sản xuất hoàn toàn đảm bảo để nuôi con. Nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của con, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị T và anh T1 mỗi người một con ( giao con Nguyễn Bùi Bảo A cho chị T, giao con Nguyễn Bùi Thu P cho ah Nguyễn Minh T1) để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của theo quy đinh pháp luật và tuyên quyền thăm nom con chung cho chị T và anh T1 là đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh T1 mỗi người nuôi một con, chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh T1 và chị T.

[3] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về công nợ chung: Chị Bùi Thị T khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

2. Về con chung:

Giao con là Nguyễn Bùi Bảo A, sinh ngày 19/4/2020 cho chị Bùi Thị T; Giao con là Nguyễn Bùi Thu P, sinh ngày 21/10/2015 cho anh Nguyễn Minh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị T chưa yêu cầu anh Nguyễn Minh T1 cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị T và anh T1.

Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Minh T1 được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3. Án phí:

Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000292 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình chuyển thành án phí cho chị Bùi Thị T.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Bùi Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Minh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND thành phố Hòa Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Hòa Bình;
  • - UBND phường Dân Chủ (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Đà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, mỗi vc nuôi 1 con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger