Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 27/2024/HSST

Ngày: 16 – 07 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Tấn Sĩ.
  2. Ông Ngô Thanh Long.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn D (tên gọi khác: Nhỏ) – sinh ngày 01/05/1995 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; số CCCD: [...], cấp ngày: 04/04/2021, nơi cấp: Cục C1 về TTXH – Bộ C2; nơi cư trú: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 08/12; con ông Huỳnh Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1998; Địa chỉ: Khu phố M, phường X,thị xã S, tỉnh Phú Yên. (Chết).

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C:

  1. Bà Võ Thị L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn T1, sinh năm 1948; Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Huỳnh Kim V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Võ Thị L1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, Huỳnh Văn D, sinh năm 1995 (không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) trong tình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong hơi thở là 0,344 mg/l khí thở) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1 – 209.36 (xe của anh Huỳnh Kim V, là anh ruột D) chở anh Nguyễn Văn C lưu hành theo hướng Nam – Bắc trên quốc lộ 1A khi đến đoạn Km 1285 +127m thuộc Khu phố K, phường X, thị xã S (đoạn đường xuống dốc có vạch kẻ sơn dành cho người đi bộ qua đường, có gắn biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo chỉ dẫn quay đầu xe) thì D điều khiển xe chạy với tốc độ nhanh trên làn đường dành cho xe cơ giới phía Đông của phần đường phía Đ (sát với làn đường dành cho xe thô sơ). Thời điểm này Nguyễn T1 (sinh năm 1948) đi xe đạp đang dừng ở lề đường phía Đông quốc lộ A để qua đường. Khi D điều khiển xe mô tô đến gần thì T1 điều khiển xe đạp qua đường theo hướng Đ – Tây nhưng thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn thì D xử lý đạp phanh và lách tay lái qua bên trái hướng lưu hành không kịp làm cho xe mô tô 78D1 – 209.36 tông vào phía bên hông trái của xe đạp do tư điều khiển gây tai nạn làm Diệu, C, T1 cùng phương tiện té ngã xuống mặt đường. Hậu quả làm D, C, T1 đều bị thương tích, được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bình Định. Đến ngày 04/3/2023, C chết trong khi cấp cứu. Ngày 06/3/2023, D ra viện; ngày 17/3/2023, T1 ra viện và tiếp tục điều trị tại nhà. Quá trình điều tra, Nguyễn T1Huỳnh Văn D đều từ chối giám định thương tích.

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 66/2023/KLGĐTT ngày 03/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn C là do chấn thương sọ não.

Vật chứng vụ án:

  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 cùng giấy đăng ký xe mô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Huỳnh Kim V.
  • 01 xe đạp sườn ngang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Tư .
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Về dân sự:

Bị cáo Huỳnh Văn D đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho gia đình bị hại Nguyễn Văn C; Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C đã bãi nại về dân sự đối với bị cáo D đồng thời không yêu cầu ông Nguyễn T1 bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSSC ngày 07/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Huỳnh Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Huỳnh Văn D khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố và khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng tội, không oan gì cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, phát biểu luận tội: Giữ nguyên nội dung của Cáo trạng số 19/CT-VKSSC ngày 07/4/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn D 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Văn D cho UBND phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, đại diện bị hại đã bãi nại về dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Các vấn đề khác:

+ Đối với hành vi của Nguyễn T1 điều khiển xe đạp qua đường theo hướng Đ – Tây thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên bị xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 do Huỳnh Văn D điều khiển chở Nguyễn Văn C lưu hành hướng Nam – Bắc trên làn đường xe cơ giới phía Đông chạy đến và tông vào phía bên trái xe đạp của T1 gây tai nạn, hậu quả làm Công chết. Hành vi của Nguyễn T1 là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị can Nguyễn T1 phạm tội nghiêm trọng do vô ý, đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Văn C không yêu cầu bồi thường, đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can. Bị can Nguyễn T1 có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, hiện đã già yếu, sau vụ tai nạn giao thông cũng bị thương tích, nhiều lần phải nhập viện điều trị, không thể tự đi lại được. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 02 ngày 18/12/2023 đối với bị can Nguyễn T1 theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó không xem xét tại phiên tòa.

+ Đối với anh Huỳnh Kim V không biết Huỳnh Văn D đã tự ý điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 của anh V tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông nên không xem xét, xử lý.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Huỳnh Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: “Thưa HĐXX bị cáo biết mình làm sai, bị cáo đã thành thật khai báo, là lao động chính của gia đình đang nuôi mẹ già và anh trai bị tâm thần, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ lời khai của bị cáo Huỳnh Văn D tại phiên toà phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 18 giờ 03 phút ngày 03/3/2023, tại Km 1285+127m Quốc lộ A thuộc khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Huỳnh Văn D (không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng đã sử dụng bia rượu nồng độ cồn là 0,344 mg/l khí thở) điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 chở Nguyễn Văn C chạy xuống dốc với tốc độ nhanh, không giảm tốc độ khi đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, vạch sơn kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, D thiếu chú ý quan sát nên không kịp xử lý né tránh khi thấy Nguyễn T1 đang điều khiển xe đạp qua đường dẫn đến xe mô tô 78D1-209.36 tông vào bên hông trái xe đạp gây tai nạn, hậu quả làm Công chết trong khi cấp cứu, T1 và D bị thương tích.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 19/CT-VKSSC ngày 07/4/2024 của VKSND thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan gì cho bị cáo.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc không chấp hành luật giao thông đường bộ sẽ gây hậu quả. Mặc dù trong vụ án này người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn T1 cũng có một phần lỗi. Đồng thời, bị hại Nguyễn Văn C ngồi sau bị cáo đã say, không làm chủ được mình nên khi va chạm xảy ra đã rơi tự do dẫn đến chấn thương và chết. Tuy nhiên, lỗi chính vẫn do bị cáo gây ra.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, được người đại diện của bị hại bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú, rõ ràng. Lỗi một phần do người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn T1 gây ra. Bị cáo ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục đối với riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Văn D đã tự thoả thuận bồi thường thiệt hại cho phía bị hại Nguyễn Văn C số tiền 15.000.000 đồng, được đại diện hợp pháp của bị hại là bà Võ Thị L và ông Nguyễn Văn H có đơn bãi nại về dân sự và không yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.

[8] Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 cùng giấy đăng ký xe mô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Huỳnh Kim V nên HĐXX không xem xét.
  • 01 xe đạp sườn ngang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn T1 nên HĐXX không xem xét.
  • Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

[09] Đối với hành vi của Nguyễn T1 điều khiển xe đạp qua đường theo hướng Đ – Tây thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên bị xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 do Huỳnh Văn D điều khiển chở Nguyễn Văn C lưu hành hướng Nam – Bắc trên làn đường xe cơ giới phía Đông chạy đến và tông vào phía bên trái xe đạp của T1 gây tai nạn, hậu quả làm Công chết. Hành vi của Nguyễn T1 là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị can Nguyễn T1 phạm tội nghiêm trọng do vô ý, đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Văn C không yêu cầu bồi thường, đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can. Bị can Nguyễn T1 có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, hiện đã già yếu, sau vụ tai nạn giao thông cũng bị thương tích, nhiều lần phải nhập viện điều trị, không thể tự đi lại được. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 02 ngày 18/12/2023 đối với bị can Nguyễn T1 theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.

[10] Đối với anh Huỳnh Kim V không biết Huỳnh Văn D đã tự ý điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 của anh V tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông nên HĐXX không xem xét.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn D 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Văn D cho UBND phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì có thể bị Toà án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4] Về dân sự: Bị cáo Huỳnh Văn D đã tự thoả thuận bồi thường thiệt hại cho đại diện của bị hại Nguyễn Văn C số tiền 15.000.000 đồng, được đại diện hợp pháp của bị hại là bà Võ Thị L và ông Nguyễn Văn H có đơn bãi nại về dân sự và không yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.

[5] Về vật chứng:

  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-209.36 cùng giấy đăng ký xe mô tô, cơ quan Điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Huỳnh Kim V.
  • 01 xe đạp sườn ngang, cơ quan Điều tra Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Tư .
  • Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Văn Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger