Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS -ST

Ngày: 16/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Anh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, bà Nguyễn Thị Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo – Thư ký TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16/07/2024, tại phòng xử án hình sự, Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST- HS, ngày 30/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 02/07/2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn Đ; sinh ngày: 02/9/1990 tại xã T (nay là xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Bị cáo là Đảng viên Đ1, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng. Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị T. Có vợ Lê Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

  2. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18/4/1990, tại xã T (nay là xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị M. Có vợ Đinh Thị Thu L1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 125/2012/HSST ngày 24/4/2012, Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 31/8/2013 theo Giấy chứng nhận đặc xá số 066/GCNĐX ngày 31/8/2013, đã nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngày 20/7/2012. Đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T1: Bà Đinh Thị H1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

  3. Nguyễn Văn N, sinh ngày 28/01/1994 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Đình T2 và bà Trần Thị H2. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  4. Đặng Sỹ C (tên gọi khác: Đặng Thế C1), sinh ngày 01/6/1979 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Bảo vệ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Đặng Sỹ L2 và bà Lê Thị H3. Có vợ Nguyễn Thị Thu H4 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 03/8/1999 bị Công an huyện C ra Quyết định truy nã số 09/QĐTN về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích”. Ngày 13/7/2000 đã lập biên bản bắt người có quyết định truy nã và có thông báo đình nã số 04 ngày 13/7/2000. Sau khi tra cứu trên hệ thống dữ liệu của Công an huyện C và bộ phận phụ trách công tác truy nã xác định không có hồ sơ và không rõ hình thức, mức độ xử lý đối với Đặng Sỹ C (Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

  5. Lê H5 (tên gọi khác: Lê Thế H6 ), sinh ngày 28/4/1974 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Xây dựng. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Lê Viết X và bà Trần Thị B1. Có vợ Trần Thị Q và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 48/HSST ngày 18/7/1997, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Che dấu tội phạm” theo quy định tại Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 31/8/2013, đã nộp 50.000 đồng án phí HSST vào ngày 01/6/1998. Đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  6. Nguyễn Xuân H7, sinh ngày 23/11/1996 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Xuân T3 và bà Trần Thị H8. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  7. Trần Huy M1, sinh ngày 17/7/1997 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Trần Huy L3 và bà Nguyễn Thị H4. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

  8. Nguyễn Thanh Q1, sinh ngày 14/5/1985 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Tống L4 và bà Trần Thị T4. Có vợ Lê Thị Thanh C2 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  9. Trần Văn H9, sinh ngày 08/8/1990 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Trần Văn H10 và bà Đinh Thị L5. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  10. Nguyễn Văn T5, sinh ngày: 22/02/1991 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị P. Có vợ Phan Thanh Thu T6 và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 24/3/2024 được thay thế biện páp ngăn chặn C3 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  11. Trần Huy T7, sinh ngày 13/8/1995 tại xã T (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Trần Huy L6 và bà Nguyễn Thị H11. Có vợ Tô Thị Huỳnh N1, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Lê Thị H, sinh năm 1995, nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

  • Ông Lê Quang X1, sinh năm 1948, nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

  • Chị Lê Thị H12, sinh năm 1973, nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 20/3/2024 khi mọi đến dự đám vui của Trần Huy T7 tại thôn P, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và đang ăn cháo, uống rượu thì Trần Văn Đ đi lại bàn có Nguyễn Văn T1 chúc rượu và nói “Cả đám cưới đông ri mà không có chi à”, T1 hiểu ý là hỏi không có ai đánh bạc nên nói lại “Ngồi đó tỷ nữa, hội ni ăn uống xong vào mà chơi”. Nghe xong Đ tiếp tục đi đến các bàn khác chúc rượu. Đến 22 giờ 30 phút, sau khi mọi người ăn uống sắp xong thì T1N đi lại cầu thang để chuẩn bị lên tầng 2, lúc này T1 quay ra nói to với Đ giữa đám vui “Đ ơi, xong rồi mi có lên không”. Biết T1N vào chuẩn bị đánh bạc nên Đ nói với Đặng Sỹ C “Có lên không” rồi cùng với C, NT1 cùng đi lên phòng ngủ tầng 2 nhà Trần Huy T7 để đánh bạc. Khi lên phòng thấy không có chiếu với bài nên Nguyễn Văn N nói vọng xuống tầng 1 với Trần Huy T7 "Coi có bài lấy cho bộ", nghe vậy Nguyễn Văn T1 nói thêm "Có chiếu không lấy cho chiếc chiếu". Nghe NT1 nói vậy, Trần Huy T7 đi vào nhà cầm lên một chiếc chiếu nhựa, màu đỏ trắng vàng, 01 hộp bài tú lơ khơ bên trong có bảy bộ bài còn chưa sử dụng lên đưa bài cho N và đưa chiếu cho T1. Nguyễn Văn N bóc bài và xóc bài để chia bài, khi xóc bài xong thì N bỏ bài xuống chiếu để lục túi quần lấy tiền ra đánh bạc. Thấy Nguyễn Văn N đang bận móc tiền nên Trần Văn Đ cầm lấy bộ bài chia bài cho 4 người đánh bạc. Thấy mọi người chưa quy ước số tiền dâm tẩy nên Nguyễn Văn T1 nói “Dâm tẩy 10.000 đồng hè”, mọi người đồng ý và bắt đầu đánh bạc với nhau.

Cách thức đánh bạc và ăn chia thắng thua mỗi ván bạc như sau: Thời điểm bắt đầu đánh bạc, quy định trong mỗi ván bài, trước lúc chia bài, mỗi người chơi đặt trước 10.000 đồng (gọi là dâm tẩy), người chia bài phải bỏ ít nhất số tiền 20.000 đồng (gọi là ẩm tẩy). Sau đó chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, người chơi tính điểm theo 03 quân bài được chia, nếu trong ván bài đó, không có ai bỏ tiền chơi tiếp thì người chia bài sẽ thắng số tiền “dâm tẩy” đó. Nếu có người tham gia đặt tiền tiếp (gọi là cân hoặc tố) thì ván bài tiếp tục theo lần lượt người liền sau, tiền tố tùy vào người chơi chứ không quy định hạn mức cụ thể trong một ván bài, nếu có người tố mà không có ai theo thì người tố sẽ thắng toàn bộ số tiền giữa chiếu bạc, nếu có người cân thì người cân phải bỏ tiền bằng số tiền của người tố gọi là cân và tiến hành mở bài để xác định thắng thua. Cách thức tính điểm: Các quân bài từ “10 đến K” được tính là 0 điểm, quân Át (A) tính là 1 điểm, các quân bài từ 2 đến 9 tính với số điểm tương ứng, cộng điểm ba quân bài được chia, lấy hàng đơn vị tính là điểm, điểm cao nhất là 9; nếu 3 quân bài có số thứ tự liên tiếp gọi là “liêng”, liêng cao nhất là Q, K, A; nếu cả 3 quân bài đều là hình người gọi là “cọc cạch”, “cọc cạch” cao nhất là K,K Q; nếu cả 3 quân bài có số thứ tự giống nhau gọi là “sáp”, “sáp” cao nhất là 3 quân A. Trường hợp nếu trong ván mà các bên giống hoặc bằng điểm nhau thì ai có quân bài chất rô lớn hơn là thắng và xét theo thứ tự rô, cơ, chuồn, bích để xác định thắng thua. Trong bốn hình thức trên thì lớn nhất là “sáp” đến “liêng”, sau “liêng” là “cọc cạch” và nhỏ nhất là tính điểm, ai có bài lớn hơn thì người đó thắng cuộc và được lấy toàn bộ số tiền mà những người chơi đã đánh ra giữa chiếu bạc trong ván đó và kết thúc một ván đánh, bắt đầu ván đánh mới do người thắng chia bài.

Sau đó, lần lượt có Trần Huy M1, Trần Văn H9, Nguyễn Xuân H7, Nguyễn Văn T5, Lê H6Nguyễn Thanh Q1 vào tham gia đánh bạc cùng. Quá trình các đối tượng đánh bạc ở tầng 2 nhà mình thì Trần Huy T7 có đi lên xem và đưa nước lên để phục vụ cho mọi người đánh bạc. Đến 01 giờ 30 phút ngày 21/3/2024 khi các đối tượng Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn T1, Đặng Sỹ C, Trần Huy M1, Nguyễn Văn N, Trần Văn Đ, Lê H6, Trần Văn H9, Nguyễn Xuân H7Nguyễn Thanh Q1 đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện, lập biên bản làm việc về hành vi đánh bạc, thu giữ 07 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng và số tiền 34.560.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án, lời khai người có liên quan và vật chứng đã thu giữ.

Qúa trình điều tra xác định tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc là 18.050.000 đồng, trong đó: Trần Văn Đ sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn T1 sử dụng số tiền 800.000 đồng, Nguyễn Văn N sử dụng số tiền 1.800.000 đồng, Đặng Sỹ C sử dụng số tiền 3.600.000 đồng, Lê H6 sử dụng số tiền 5.900.000 đồng, Nguyễn Xuân H7 sử dụng số tiền 2.000.000 đồng, Trần Huy M1 sử dụng số tiền 900.000 đồng, Nguyễn Thanh Q1 sử dụng số tiền 750.000 đồng, Trần Văn H9 sử dụng số tiền 700.000 đồng và Nguyễn Văn T5 sử dụng số tiền 600.000 đồng. Còn Trần Huy T7 là người cung cấp bài và chiếu cho các bị can khác đánh bạc.

Việc thu giữ và xử lý các vật chứng, đồ vật có liên quan đến vụ án:

Tiền ngân hàng N2: 34.560.000 đồng (trong đó xác định số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc là 18.050.000 đồng, còn 16.510.000 đồng của Trần Văn Đ để trong ví tiền của mình xác định không sử dụng vào mục đích đánh bạc). Bảy bộ bài tú lơ khơ màu xanh, mỗi bộ 52 quân. Một chiếu nhựa màu đỏ vàng trắng, đã qua sử dụng. Số vật chứng trên được chuyển đến kho vật chứng và tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc bảo quản theo quy định

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS-CL ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 phạm tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xử phạt:

Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách tương ứng 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đặng Sỹ C, Nguyễn Văn N, mỗi bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách tương ứng 14 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Còn bị cáo Nguyễn Văn T1 thuộc gia đình hộ nghèo nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo này.

Lê H6, Trần Huy M1, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy T7 mỗi bị cáo từ 40.00.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nguyễn Văn T5, Trần Văn H9Nguyễn Thanh Q1 mỗi bị cáo từ 30.00.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Tịch thu, tiêu hủy: 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ màu xanh, mỗi bộ 52 quân; 01 (một) chiếu nhựa màu đỏ vàng trắng, đã qua sử dụng. Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 18.050.000 đồng là số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc. Trả lại cho bị cáo Trần Văn Đ số tiền 16.510.000 đồng là tiền để trong ví tiền của mình xác định không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định đó đảm bảo hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5 đều thừa nhận hành vi đánh bài liêng được thua bằng tiền của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Trần Huy T7 thừa nhận mặc dù biết những người đang ở tầng hai nhà mình chuẩn bị đánh bài được thua bằng tiền nhưng vẫn đưa bài và chiếu lên để các đối tượng thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền. Lời khai của các bị cáo tại phiên Tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để khẳng định:

Khoảng từ 22 giờ 30 phút ngày 20/3/2024 đến 01 giờ 30 phút ngày 21/3/2024, khi đến vui đám cưới của Trần Huy T7 tại thôn P, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5 đã thực hiện hành vi đánh bài dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bài liêng được thua bằng tiền là 18.050.000 đồng. Mặc dù biết các bị cáo sử dụng phòng ngủ của nhà mình để đánh bài được thua bằng tiền nhưng Trần Huy T7 vẫn lấy 07 bộ bài Túlơkhơ, 01 chiếc chiếu nhựa đưa lên cho các bị cáo thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền của mình.

Các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5 thực hiện hành vi đánh bài liêng được thua bằng tiền (với sự chuẩn bị công cụ phương tiện là bài Túlơkhơ và chiếu nhựa của Trần Huy T7) với tổng số tiền 18.050.000 đồng khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 21 Bộ luật hình sự; thực hiện hành vi do lỗi cố ý với mục đích vụ lợi cá nhân. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Tình tiết tăng nặng: Tất cả các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra: Trần Văn Đ, Nguyễn Xuân H7 từng tham gia nghĩa vụ quân sự tại Quân khu D1; Nguyễn Văn T1 và gia đình thuộc hộ cận nghèo năm 2024; Đặng Sỹ C có bố đẻ, mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng hai, ba và đều là thương binh; Lê Hoàn có bố đẻ, mẹ đẻ được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen; Nguyễn Văn T5, Trần Văn H9 có bố đẻ từng tham gia kháng chiến tại mặt trận V - Hà Giang được tặng Kỷ niệm chương kháng chiến; Nguyễn Thanh Q1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động trụ cột trong gia đình có 04 người con, có con gái bị khuyết tật bẩm sinh dạng trí tuệ và ở mắt. Do vậy các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về vai trò của các bị cáo: Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1 là người khởi xướng và thực hành. Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thanh Q1 là người thực hành. Trần Huy T7 là người giúp sức.

[5]. Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa bàn nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét hoàn cảnh dẫn tới hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo không có hứa hẹn từ trước, hành vi phạm tội là nhất thời khi đến vui đám cưới.

Trên cơ sở tính chất, mức độ, vai trò và nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo Nguyễn Văn T1, Lê H6 đã từng bị kết án nhưng thời gian đã lâu, đã được xóa án tích. Bị cáo T1 thuộc hộ cận nghèo, hai con còn nhỏ; bị cáo H6 chỉ là người thực hành trong vụ án. Bị cáo Đặng Sỹ C có quyết định truy nã vào năm 1999, thông báo đình nã vào năm 2000 về hành vi Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích nhưng sau khi có thông báo đình nã thì không có hồ sơ, hình thức, mức độ xử lý đối với bị cáo, đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ xác định tiền án, tiền sự đối với bị cáo. Cần phải xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trác nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo C.

Các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là phù hợp với quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Các bị cáo Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5 là người thực hành; bị cáo Trần Huy T7 là người giúp sức, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C theo quy định tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Số tiền 18.050.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Số tiền 16.510.000 đồng thu giữ của Trần Văn Đ không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. 07 (Bảy) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 quân bài ; 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ vàng trắng, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiên phạm tội không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung áp dụng đối với các bị cáo và xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với vai trò, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo nên được chấp nhận.

[7]. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58; điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Đặng Sỹ C.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; điểm s, i khoản 1 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58; điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58; điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T1.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 35; điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân H7, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1 điều 51; điều 17; điều 35; điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Huy M1, Trần Huy T7.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 35; điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê H6.

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136; điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt:

  • - Trần Văn Đ 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  • - Nguyễn Văn T1 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • - Nguyễn Văn N 8 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

  • - Đặng Sỹ C 8 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

  • - Lê Hoàn số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

  • - Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Trần Huy T7 mỗi bị cáo 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

  • - Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

Giao các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C cho UBND xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người bị kết án cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Bảy bộ bài tu lơ khơ, mỗi bộ E quân bài; 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ, vàng, trắng

  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 18.050.000 đồng (mười tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

  • - Trả lại cho bị cáo Trần Văn Đ số tiền 16.510.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm mười nghìn đồng)

(Đặc điểm cụ thể từng loại vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc).

Về án phí: Buộc Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Đặng Sỹ C, Lê H6, Nguyễn Xuân H7, Trần Huy M1, Nguyễn Thanh Q1, Trần Văn H9, Nguyễn Văn T5Trần Huy T7 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T1.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Can Lộc;
  • - CQĐT CA huyện Can Lộc;
  • - CQTHAHS CA huyện Can Lộc;
  • - UBKT Huyện ủy Can Lộc;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Can Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Can Lộc;
  • - UBND xã Kim Song Trường;
  • - Bị cáo,
  • - Người có QLVNVLQ;
  • - Lưu: HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Anh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS -ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về đánh bạc

  • Số bản án: 27/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng từ 22 giờ 30 phút ngày 20/3/2024 đến 01 giờ 30 phút ngày 21/3/2024, khi đến vui đám cưới của Trần Huy Tuấn tại thôn Phượng Sơn, xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, các bị cáo Trần Văn Đức, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nam, Đặng Sỹ Công, Lê Hoàn, Nguyễn Xuân Hùng, Trần Huy Mạnh, Nguyễn Thanh Quý, Trần Văn Hùng, Nguyễn Văn Tuấn đã thực hiện hành vi đánh bài dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bài liêng được thua bằng tiền là 18.050.000 đồng. Mặc dù biết các bị cáo sử dụng phòng ngủ của nhà mình để đánh bài được thua bằng tiền nhưng Trần Huy Tuấn vẫn lấy 07 bộ bài Túlơkhơ, 01 chiếc chiếu nhựa đưa lên cho các bị cáo thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền của mình.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger